Saturday, September 8, 2012

TANG LỄ CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THƯỢNG MINH HẠ CHÂU


Từ sáng sớm ngày 9-9-2012 (24-7-Nhâm Thìn), con đường Nguyễn Kiệm (quận Phú Nhuận, TP.HCM) dường như quá nhỏ so với dòng người khắp nơi quy tụ về thiền viện Vạn Hạnh; khuôn viên thiền viện cũng quá nhỏ so với số lượng người đến kính tiễn kim quan cố Trưởng lão HT.Thích Minh Châu nhập bảo tháp. Buổi lễ sáng hôm nay do HT.Thích Khế Chơn, Phó ban Hướng dẫn Phật tử TƯGH điều khiển chương trình. 6 giờ 40 phút: Môn đồ tác bạch cung thỉnh chư tôn đức Ban Nghi lễ: nhị vị Hòa thượng chấp lệnh, Hòa thượng sám chủ và chư vị kinh sư quang lâm Giác linh đài cử hành lễ phát hành. 7 giờ 00: Chư tôn đức Ban Nghi lễ cử hành lễ phát hành trước kim quan và Giác linh đài cố Trưởng lão Hòa thượng theo nghi thức thiền môn Huế, do HT.Thích Huệ Ấn làm sám chủ.
Nghi lễ phát hành kết thúc vào lúc 7g30. Hiện nay, Ban cung nghinh đang cung thỉnh chư tôn đức giáo phẩm Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự GHPGVN, chư Tăng Ni, khách quý quang lâm lễ đường - nơi tôn trí kim quan cố Trưởng lão Hòa thượng để chính thức cử hành Lễ tưởng niệm của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 7 giờ 35 phút: Chính thức cử hành Lễ tưởng niệm có HT.Thích Đức Nghiệp, Phó Thư ký HĐCM; HT.Thích Chơn Thiện, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS; HT.Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS; HT.Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch HĐTS kiêm Trưởng ban Phật giáo Quốc tế TƯGH, Viện trưởng Học viện PGVN tại TP.HCM, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học VN; HT.Thích Thiện Nhơn, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS; HT.Thích Giác Toàn, Phó Chủ tịch HĐTS... cùng chư tôn đức lãnh đạo Văn phòng I, Văn phòng II TƯGH, chư tôn đức lãnh đạo các ban, ngành, viện, học viện T.Ư, lãnh đạo Ban Trị sự các tỉnh, thành trong cả nước, đại diện các tổ chức Phật giáo quốc tế; các tổ chức Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại, cùng hàng ngàn Tăng Ni Phật tử... Về phía khách quý có sự tham dự của các ông Hà Văn Núi, Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQVN; Nguyễn Mạnh Hùng, Phó ban Dân vận T.Ư; Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP.HCM; Dương Quan Hà, Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQVN, Chủ tịch UBMTTQ TP.HCM; Đặng Trung Thành, Phó Vụ trưởng Vụ 1 Ban Tôn giáo Chính phủ... cùng lãnh đạo các bộ, sở, ban, ngành T.Ư và TP.HCM. Tham dự còn có đại diện các phái đoàn ngoại giao tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam và các tôn giáo bạn. Sau lời giới thiệu của HT.Thích Khế Chơn về ý nghĩa và thành phần tham dự, HT.Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS GHPGVN cung tuyên Tiểu sử cố Trưởng lão HT.Thích Minh Châu, Phó Pháp chủ GHPGVN (xem toàn văn tại đây).
Cung nghinh chư tôn đức giáo phẩm Trung ương Giáo hội từ toà Viện trưởng
Cung nghinh chư tôn giáo phẩm lãnh đạo TƯGH quang lâm lễ đường
8 giờ 17 phút: HT.Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN, Phó ban Thường trực Ban Lễ tang đọc lời cảm niệm
Sau lời tưởng niệm của Trung ương Giáo hội, chư tôn giáo phẩm và toàn thể Tăng Ni, Phật tử, khách quý dâng hương tưởng niệm trước Giác linh đài.
Tiếp theo chương trình, HT.Thích Thiện Nhơn, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS GHPGVN đọc lời cảm tạ của Ban Tổ chức. Đúng 8 giờ 30 phút: Chư tôn đức Ban Nghi lễ cử hành nghi lễ truyền thống thiền môn cung thỉnh Giác linh và kim quan cố Trưởng lão Hòa thượng thăng thượng giá. Lư hương, long vị, pháp y, di ảnh và kim quan cố Trưởng lão Hòa thượng được cung nghinh trong tiếng chuông trống bát-nhã trầm hùng và trong âm vang tiếng niệm Phật của Tăng Ni Phật tử. Dẫn đầu đoàn cung nghinh là khánh lệnh, lư trầm và hai bình hoa; tiếp theo là bàn tôn trí hư hương, đoàn dâng hoa cúng dường, đoàn bê-tích pháp lệnh, chư tôn giáo phẩm Trung ương Giáo hội, quý vị quan khách, Hòa thượng đệ nhất chấp lệnh, chư tôn đức Ban Trị sự Phật giáo các tỉnh thành, chư tôn đức Tăng, Hòa thượng đệ nhị chấp lệnh, Ban kinh sư, Hòa thượng sám chủ, ban lễ nhạc, bàn phan triệu, bàn tôn trí bát hương - long vị - pháp y và di ảnh, kế tiếp là kim quan cố Trưởng lão Hòa thượng, đi theo sau là môn đồ pháp quyến Tăng, chư tôn đức Ni, môn đồ thế quyến, thiện tín Phật tử thân cận và toàn thể Phật tử. 8 giờ 56 phút: Kim quan cố Trưởng lão được trang nghiêm cung thỉnh rời khỏi lễ đường
Đoàn cung nghinh đã đến bảo tháp Pháp Lạc và an vị kim quan trong kim tĩnh của bảo tháp. Chư tôn đức Tăng Ni, toàn thể Phật tử đã đồng thanh tụng niệm cầu vãng sanh và hồi hướng với niềm xúc động nghẹn ngào. Chư tôn giáo phẩm và các vị khách quý đã rải hoa bái biệt vị giáo phẩm lãnh đạo cao cấp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhà phiên dịch Kinh tạng Pali với sự nghiệp dịch thuật vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Phật giáo nước nhà, nhà giáo dục Phật giáo lỗi lạc, nhà hoạt động ngoại giao xuất sắc, người đồng sáng lập tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam, vị Thầy kiệm lời nhưng thường trực với nụ cười khoan thứ trên môi, vị Thầy khả kính của nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử; người đã để lại những ấn tượng sâu sắc với giới trí thức trong và ngoài nước. Xin cúi lạy Giác linh Trưởng lão Hòa thượng Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh GHPGVN. Ngưỡng nguyện Trưởng lão Hòa thượng sớm hóa hiện cõi đời này để tiếp tục sự nghiêp giáo hóa độ sinh! Hoàng Độ - Bảo Toàn - Huỳnh Diệu

Friday, September 7, 2012

Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương và Phân Ban Gia đình Phật tử VN viếng hương ĐẠI LÃO HT Thích Minh Châu


Chiều ngày thứ 6, 07/9/2012, phái đoàn Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương và Phân Ban Gia đình Phật tử Việt Nam do HT. Thích Thiện Duyên - ủy viên Thường trực HĐTS, Trưởng Ban Hướng dẫn Phật tử TW làm trưởng đoàn. Và đại diện Ban Trị tỉnh Hội Phật Giáo tỉnh Quảng Nam đã đến viếng hương Đại Lão Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu. Dưới đây là những hình ảnh được ghi nhận:
Hòa Thượng Trưởng Ban Hướng Dẫn Phật tử Việt Nam, Trưởng Ban Trị Sự Phật Giáo Quảng Nam nguyện nhan cầu nguyện giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu CAO DĂNG PHẬT QUỐC.
NHIỄU KIM QUAN ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG
GHI VÀO SỔ TANG - LƯU NIỆM

Friday, July 13, 2012

ĐỪNG DÍNH ĐẾN QUYỀN LỢI (HT THÍCH TRÍ TỊNH)


Sống trong cuộc đời, muốn được thong thả rảnh rang thì đừng dính đến quyền lợi. Làm việc hễ thuận duyên thì làm, không thuận thì phải khéo léo nhẫn chịu để vượt qua. Không phải hàng xuất gia không bị dính mắc vào quyền lợi. Huống nữa, chính quyền lợi đó sẽ đem đến những tai họa cho thân mình. Mấy huynh đệ tuổi còn trẻ, đường còn dài, phải lưu ý lắm mới được. Nói đến đây, tôi nhớ lúc còn học tại chùa Báo Quốc ở Huế, nhân đọc Đại tạng đến quyển Trúc Song Tùy Bút của Đại sư Liên Trì, phần nói về “Con nhện con tằm”. Trong ấy nói hai con vật này đều nhả tơ, giăng lưới. Nhưng một con phải chết vì sự nhả tơ đó, còn một con thì lợi dụng sự nhả tơ để bắt mồi. Con tằm nhả tơ rồi bị đem đi luộc, còn con nhện cũng nhả tơ nhưng lại tự tại qua lại trên những sợi tơ đó, không bị vướng kẹt. Đại sư Liên Trì đưa ví dụ này nhằm để khuyên nhắc tất cả mọi người. Vì ai nấy đều có sự nghiệp. Người đời cũng có sự nghiệp, mà người xuất gia cũng có sự nghiệp; chỉ là lớn hay nhỏ mà thôi. Tuy vậy, mình nhớ tạo sự nghiệp phải được như con nhện, đừng như con tằm nhả tơ rồi phải chết trong kén. Tôi nhận thấy bài đó hay, lấy làm thích thú, luôn nhớ và đem ứng dụng tu hành. Nghĩ lại, từ năm 1946 tôi lập Liên Hải Phật Học đường, các Phật Học viện, thành lập chùa, ra làm việc cho Giáo hội như: Trưởng ban Giáo dục, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự, rồi Viện trưởng Phật học viện Huệ Nghiêm… nhưng làm việc mà không bị ràng buộc. Lúc làm Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự, đã 4 tháng mà tôi vẫn chưa mở văn phòng. Mấy thầy thấy vậy thắc mắc hỏi thăm, riêng tôi lại nghĩ hễ lập thì bị kẹt phải vào ở đó. Về sau, tôi đích thân xuống thỉnh HT. Từ Nhơn giữ chức Phó Tổng vụ Tăng sự và đặt sẵn văn phòng tại chùa Ấn Quang. Thế là tôi mở văn phòng từ đó, nhưng chỉ đứng ở ngoài để lo tinh thần mà giảng kinh cho mấy huynh đệ học. Tôi không phải mong cầu những cái lợi như người đời thường nghĩ, chỉ luôn luôn cầu công đức. Cái lợi của người tu chính là thiện căn công đức, đâu phải là tiền bạc vật chất. Mấy huynh đệ phải nhớ mình ở chỗ nào nơi nào cũng phải gây tạo thiện căn công đức, đừng chạy theo những vật chất bên ngoài. Lúc giữ chức Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự tất cả là 10 năm. Trong thời gian đó hễ thầy nào muốn du học qua Hồng Kông..., hễ đến tôi thì tôi ký. Mà phải trực tiếp đến mới được, nếu qua trung gian thì người khác sẽ nghĩ mình làm việc có điều không tốt, chẳng hạn như vì tiền. Tôi chỉ nghĩ, phải trợ giúp cho mấy thầy được thuận duyên tu học, làm được việc này cũng chính là vun bồi căn lành công đức cho mình, không bao giờ dính đến tiền bạc. Điều thứ hai: Tôi luôn làm theo khẩu hiệu ngầm của riêng mình: Những việc đúng pháp, về mặt tinh thần hoặc vật chất thì “Không cầu cũng không từ”. Đây là khẩu hiệu để tôi lập thân, nghĩa là “Không tìm cầu cũng không từ chối”. Chẳng hạn, nếu có duyên cất chùa, mà cái duyên đó nó tự đến, nhận thấy đáng thì không từ chối. Cho đến tứ sự cúng dường cũng vậy, những vật gì không dùng, nhưng cũng không từ chối. Mình không sử dụng thì chuyển đến người khác, cho đại chúng dùng. Lúc trùng tu chùa Vạn Đức cũng vậy, tôi không cho đi quyên góp, ai hay biết thì đến cúng dường, còn “tìm cầu” thì nhất định không. Ngoài ra, nếu làm việc gì, dù có cái lợi lớn trước mắt nhưng khi làm có cái hại xen vô trong hiện tại hoặc tương lai thì tôi quyết không làm, không tham dự. Ví dụ như: Danh vị, tiền bạc, lời khen tặng… Nếu được lợi thì phải xem có cái hại hay không, nếu có phải tránh xa, thấy hại mà vẫn chạy vô thì bị nghiệp dẫn. Tôi thấy việc tu hành đã trải qua mấy mươi năm, nhờ ứng dụng hai điều trên nên không bị tổn thất chịu cái hại lớn, mà lại thấy việc nhẹ nhàng thảnh thơi. Tuy vẫn có sự lo lắng cực nhọc, nhưng ít thôi, còn kết quả cũng khá nhiều. Ở đây tôi đã nói tận đáy lòng, mấy huynh đệ thấy đúng lý thì nên bắt chước làm theo, để sự tu hành không bị vướng kẹt, thiện căn công đức luôn được tăng trưởng. Đó là điều tôi luôn mong muốn ở nơi tất cả mấy huynh đệ!

Monday, June 11, 2012

NGHI VE TINH THAN AN CU HOM NAY

An cư với ý nghĩa ban đầu là thiết lập một hình thức sinh hoạt cho Tăng đoàn vào mùa mưa, nhưng theo thời gian, an cư càng ngày càng mở rộng ý nghĩa tâm linh và xã hội của nó. Và tinh thần an cư đã thâm nhập cộng đồng, dần dần vượt khỏi quy ước thời gian (hình thức ba tháng hạ), trở thành một khái niệm sống đạo, một nhu cầu tâm linh phổ biến không chỉ dành riêng cho hàng xuất gia, cho người Phật tử mà cho tất cả mọi người. Chúng ta thấy, đời sống vật chất phát triển ngày nay không thực sự khuyến khích con người vươn tới một đời sống tâm linh tốt đẹp. Đây là một hiện thực mà ai cũng nhận ra. Điều đáng nói, thực trạng xã hội đang xuất hiện ngày một nhiều những con người cho rằng bản thân họ được hình thành từ sự tiến hóa của các điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội…, và ngay cả ý thức của họ cũng là sản phẩm và bị điều kiện hóa bởi những thế lực ngoại tại. Thế thì, việc đặt ra thời gian an cư cho sự chuyển hóa thân tâm có ý nghĩa gì không?  Thế giới vật lý của chúng ta được biểu hiện rất rõ qua hai trạng thái chính, đó là ngày và đêm, động và tĩnh, và các trạng thái này tác động rất nhiều đến tâm lý, tình cảm, sức khoẻ của con người. Tuy nhiên, cứ nhìn cuộc sống bận rộn thường ngày của chúng ta thì thấy ngay một sự mất cân bằng rất lớn: người ta có thể làm việc, ăn chơi suốt ngày đêm, và sự yên tĩnh vốn có cũng theo đó mà mất dần đi…, nhưng điều đáng nói, sự mất cân bằng đó hầu như không có tác động gì nhiều đến đời sống để người ta có thể ý thức và hành động sao cho có ý nghĩa hơn. Rõ ràng con người hiện đại không có nhiều thời gian nghỉ ngơi nhằm bù cho những năng lượng đã mất, huống gì là thời gian để suy nghiệm về bản thân. Vì vậy, những vấn đề như: sống mất niềm tin, sống lạc lõng, sống thừa; sống trong đổ vỡ, rách nát, mâu thuẫn ngày càng phổ biến và có khả năng đưa cuộc sống chúng ta rơi vào bế tắc. Có thể nói, những vấn đề của cuộc sống hiện đại càng trở nên nặng nề, ngột ngạt thì xu hướng thoát ly tiêu cực càng gia tăng, và những kinh nghiệm tâm linh càng vắng dần sự khám phá. Trong thực trạng đó, an cư - một thông điệp tinh thần đầy từ bi và trí tuệ được Đức Phật và Tăng đoàn của Ngài gửi đến chúng ta từ hơn 25 thế kỷ trước - càng trở nên có ý nghĩa. Người ta thường nói: an thì mới vững, vì thế, an cư là sống an định trong một trú xứ, một không gian nào đó phù hợp với tâm thức và hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân, tập thể hay cả cộng đồng. Có thể hiểu an cư là thời gian mà chúng ta dừng nghỉ để bổ sung cho mình những khoảng trống cần thiết nhằm đưa vào tâm thức những nguồn năng lượng mới của yêu thương và hiểu biết, giúp đời sống giảm dần những đau khổ và tăng thêm những an lạc. An cư là dừng nghỉ để suy nghiệm nhiều hơn về bản thân, để chuyển hóa nội tâm và khám phá đời sống một cách mới mẻ, an lạc, từ đó thiết lập một môi trường an ổn, hoà hợp với ý nghĩa cùng chung sống. Đối với người xuất gia, an cư không chỉ là trách nhiệm, bổn phận mà còn là con đường để thăng hoa tâm linh, vun bồi trí tuệ, thực hiện lý tưởng cao đẹp, nói như tinh thần thiền học Việt Nam: “Khi đi gió cuốn mây bay, khi đứng núi yên non vững”. An cư là chuyển từ trạng thái vọng, động sang trạng thái tịch tĩnh vì thế an cư không nên hiểu nó như là sợi dây cương kìm hãm tâm thức, cũng không phải thời gian áp chế thân thể, và càng không phải là kết thúc thời gian ấy, mọi người sẽ nhận được một “chứng chỉ” làm căn cứ cho việc tấn phong giáo phẩm. An cư là niềm vui, hạnh phúc, là nhu cầu như hơi thở tự nhiên của người học Phật, đặc biệt là người xuất gia, nên không thể biến nó thành một khái niệm phong trào nặng về hình thức. Đối với người Phật tử, mùa an cư không chỉ thể hiện sự quan tâm đến đời sống, điều kiện sinh hoạt của chư Tăng mà còn thể hiện niềm tin, sự kính ngưỡng, mong mỏi những bậc thầy của mình thăng tiến trên con đường tâm linh để xác quyết, giữ vững niềm tin của họ với Tam bảo. Và hơn hết, vượt ra khỏi ý nghĩa đó, người Phật tử áp dụng tinh thần an cư vào chính cuộc sống hàng ngày của mình cho dù họ giữ bất kỳ cương vị nào trong xã hội. Ở nghĩa phổ cập, an cư là dừng mọi việc làm, suy nghĩ có khả năng kéo mình vào con đường vật chất bận rộn, để chữa lành những vết thương do sự ganh đua, mâu thuẫn, vị kỷ, khổ đau… Nói đơn giản, an cư là thời gian cho mỗi người chúng ta cơ hội làm lành mạnh tâm hồn và thể xác, để thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người, giữa con người với môi trường sinh thái. An cư là thời gian nuôi dưỡng trái tim, để kinh nghiệm nhiều hơn về những gì đã mất, hay những đau khổ giằng dai còn hiện hữu…, để gọi thầy, gọi mẹ, gọi anh, gọi em… một cách thanh thản nhất, bình yên nhất. An cư không phải là thời gian để tuân thủ những điều mà chúng ta cho rằng nó ràng buộc, giáo điều… Đó không phải là ý nghĩa đích thực của an cư. An cư là thời gian để chúng ta tạo ra năng lượng chuyển hóa thân tâm, nên chúng ta đừng miễn cưỡng kiểm soát thân tâm bằng những quy điều mà hãy để trái tim được thực sự tự do sáng tạo, thể hiện cảm xúc, với niềm vui nho nhỏ rằng, ngay bây giờ và ở đây, cơn giận của chúng ta với một người đã chấm dứt, mặc cảm tự ti đã không còn, tham lam ganh ghét đã lùi xa…, và để tất cả mọi an lành tràn vào trong tâm thức. Cuộc sống đáng yêu và mầu nhiệm biết bao khi mang đến rất nhiều ý nghĩa để chúng ta kinh nghiệm, và hiểu được rằng không có gì biệt lập với chúng ta. An cư cho chúng ta suy nghiệm nhiều hơn những vấn đề nổi lên trong tâm thức, từ đó, chúng ta khám phá cuộc sống chung quanh bằng con mắt trẻ thơ, hồn nhiên, bình yên và mới mẻ. Chúng ta hãy khám phá người thân chung quanh mình không phải bằng con mắt nghi kỵ, thành kiến, để rồi con dâu hãy nhìn mẹ chồng, chị nhìn em, vợ nhìn chồng, người sống chung trong một khu phố nhìn những người hàng xóm của mình bằng niềm tin yêu và sự chia sẻ, chính lúc ấy môi trường sống của chúng ta mới thực sự trở thành môi trường sống an vui. An cư cũng là lúc người giàu nghĩ nhiều hơn về cuộc sống của người nghèo, người được học hành nghĩ nhiều hơn về những người kém may mắn hơn mình…, và đó là cơ hội để chia sẻ những đau buồn và hạnh phúc, để cuộc sống nhiều thêm những lời cảm ơn và sự tương kính… Trong thời buổi kinh tế phát triển mà vật chất trở thành thước đo cho nhiều giá trị, tinh thần an cư bị lấn lướt và khuyến khích bởi nhiều động cơ có tính chất thế tục tầm thường, người Phật tử phải nỗ lực tự mình đứng lên tiên phong cho con đường thực hiện lý tưởng tâm linh cao đẹp, trải nghiệm và kinh nghiệm đời sống tâm linh, vuợt qua mọi lý luận xã hội dung tục của bất kỳ sự “uyên bác” nào để thực sự sống đạo, chấm dứt những nghi ngờ, đố kỵ, chia rẽ của tư tưởng tông phái và nếp thực hành, mở rộng tâm hồn đón nhận tất cả những bao la bát ngát của cuộc sống. An cư là giây phút dừng tâm, nhận ra những gì đã vô tình đi qua, những gì đã bị bỏ quên, những gì được mất, những gì là bi kịch, tuyệt vọng để trở về với trạng thái tinh thần bình thản và an trú trong sự trong veo của tâm thức. Có thể nói, an cư không bao giờ là nô lệ của hình thức mà chính nó phải là con đường thực nghiệm tâm linh, con đường khám phá hiện hữu một cách mới mẻ và sáng tạo. An cư là bỏ đi sự nhàm chán đơn điệu thường ngày để nhìn nhận những mối tương quan trong cuộc sống chúng ta một cách sâu sắc hơn, tế nhị hơn. Vậy, tinh thần an cư là cơ hội để mỗi cá nhân tự sửa mình, và an cư không chỉ bó hẹp trong ba tháng mà cần phải thường trực trong suốt cuộc đời của mỗi con người, mỗi tổ chức, đoàn thể. Mỗi ngày, mỗi tháng hoặc mỗi định kỳ ba tháng mọi người cần dành thời gian để an cư với tinh thần như thế, để cuộc sống được cân bằng và hướng thượng. An cư là sống với chính mình, nhắc nhở sự hiện hữu của mình trong vô vàn mối liên hệ tự nhiên và xã hội. Với ý nghĩa đó, có thể nói: “Tôi an cư vậy tôi tồn tại”. Thích Thanh Thắng

Sunday, May 13, 2012

THƯ NGỎ

THƯ NGỎ
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Kính bạch: Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng-Ni Kính thưa: Quý vị thiện hữu tri thức, quý thiện nam tín nữ, Phật tử hảo tâm xa gần “Phật pháp xương minh do tăng già hoằng hóa Thiền môn hưng thịnh bởi đàn Việt phát tâm” Chùa Đạo Nguyên tọa lạc 140 Phan Bội Châu, Tân Thạnh, Tam Kỳ, Quảng Nam, là nơi chư Tăng và Phật tử về sinh hoạt tu học ngày càng nhiều. Từ 1990 đến 2009, Chư Tôn Đức hơn 100 vị trong tỉnh về đây An Cư. Chúng Tăng phải nghỉ lại từ 5 đến 6 vị một phòng, Sa Di và điệu chúng phải nằm chung một phòng rộng, có khi phải tận dụng luôn phòng lầu chuông, lầu trống mới tạm đủ chổ ở. Đến nay, cơ sở không đủ nhu cầu đáp ứng cho Tăng chúng về An Cư nữa. Với tâm nguyện, muốn chư Tôn Đức tập trung về trụ xứ này để tu học trong 3 tháng An Cư, mong mỏi cho những vị Tăng trẻ tấn tu đạo nghiệp trau dồi Giới Định Tuệ “Tre tàn măng phải mọc” mới có đủ tài đức gánh vác việc Phật sự mai sau. Hoài bảo ấy, Bổn Tự chúng tôi xây dựng ngôi nhà Tăng khang trang cho Chư Tăng về đây tu tập trong 3 tháng An Cư là điều rất cần thiết. Với công trình xây dựng to lớn, đời sống Phật tử, quê hương duyên hải miền Trung nơi đây, tín đồ tu học rất đông, nhưng kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, nên Phật sự nói trên khó thành tựu, cần sự quan tâm của Đạo hữu Phật tử gần xa. Luôn trăn trở nhớ nghĩ đến câu: “Mỗi người mỗi nước mỗi non Bước vào cửa Phật là con một nhà” Với tinh thần đó, Bổn tự chúng Tôi ngưỡng mong Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni từ bi mẫn cố gia hộ để tăng thêm nguyện lực, công đức lực, hoan hỷ lực. Kính mong quý vị thiện hữu tri thức, quý thiện nam, tín nữ Phật tử hảo tâm xa gần, hoan hỷ đồng tâm cầu nguyện và trợ duyên tài lực để Phật sự sớm thành tựu viên mãn. Kính chúc Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ. Kính chúc quý Thiện hữu tri thức, quý Thiện Nam tín nữ Phật tử hảo tâm xa gần thân tâm an lạc, gia đạo bình an, vạn sự viên thành. Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Tam kỳ, ngày 15 tháng 5 năm 2012 Viện Chủ Hòa thượng: Thích Thiện Duyên Mọi chi tiết xin gởi về: Chùa Đạo Nguyên 140 Phan Bội Châu, TP. Tam Kỳ Quảng Nam, liên hệ:Tỳ Kheo:Thích Viên Tánh, TK: Thích Viên Tịnh Điện Thoại : 0938514462,or 0905089220, 05106282003 -Email:vientanh@gmail.com Tài khoản ngân hàng: Nguyễn Văn Tình - Số TK: 133458679 tại Ngân hàng Á Châu (Swifcode: ASCBVNVX) Tam Kỳ, Quảng Nam.