CHÚC MỪNG NĂM MỚI CON RỒNG
Con Rồng trong Kinh Điển Phật Giáo -- HT Thích Thiện Siêu
Long Vương - HoPhap.Net
Con Rồng trong Kinh Điển Phật Giáo
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, vị thủy tổ đầu tiên về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam là do Lạc Long Quân gặp nàng Âu Cơ ở Động Đình Hồ, sau đó sinh ra một cái bọc trăm trứng, từ bọc đó nở ra trăm người con. Lạc Long Quân là cốt Rồng, Âu Cơ là cốt Tiên, khi sinh ra 100 người con như vậy, Rồng vốn ở nước, Tiên ở núi cho nên mới chia 100 người con ra hai phần: 50 người đi theo cha xuống biển, 50 người đi theo mẹ lên núi, từ đó dân tộc ta có nguồn gốc là con Rồng cháu Tiên.
Khi dân tộc ta có nguồn gốc con Rồng cháu Tiên thì chúng ta là dòng giống Rồng Tiên. Dòng giống Rồng Tiên vốn là dòng giống cao cả, oai phong, dũng cảm. Rồng Tiên có sức mạnh phi thường và khả năng biến hóa khôn lường.
Đời Lý có vua Lý Công Uẩn, con nuôi của Thiền sư Lý Khánh Vân, được sự dạy dỗ giúp đỡ của Thiền sư Vạn Hạnh, là hai vị Thiền sư đầu đời Lý rất nổi tiếng về đạo hạnh và trí tuệ thông bác hơn người.
Khi ấy gặp lúc vua Lê Ngọa Triều cuối đời Tiền Lê là một vị hôn quân, sa đọa, hung ác, dân tình oán thán. Vua này ăn chơi trác táng nên đã sinh bệnh không thể ngồi dậy thiết triều được, mỗi khi thiết triều chỉ nằm mà thôi, cho nên có danh là Lê Ngọa Triều. Trước tình hình như vậy, ngài Vạn Hạnh Thiền sư cùng Đào Cam Mộc, một vị đại thần trong triều sắp đặt đưa Lý Công Uẩn lên làm vua, lập nên triều đại nhà Lý trị vì trên 200 năm rất vững chắc.
Khi lên ngôi, vua tự xưng là Lý Thái Tổ. Từ đất Hoa Lư, vua Lý Thái Tổ nghĩ rằng, đất nước đã độc lập, không thể ở một nơi đất đai chật hẹp, giao thông không thuận tiện, ngài nghĩ, tại sao trẫm không dời đô về một chỗ khác cho thuận tiện hơn cho việc triều chính, tiện cho việc đối nội lẫn đối ngoại. Từ đó vua mới ra chiếu dời đô về đất Hà Nội bây giờ. Trong khi về đến Hà Nội thấy một con Rồng vàng bay lên, nên vua mới lấy đó để đặt cho Kinh đô nước ta là Thăng Long. Thăng Long là thủ đô của nước Việt Nam lúc bấy giờ. (Thăng Long tức là Rồng bay lên). Rồng bay lên thì cũng có thể hạ xuống, chỗ hạ xuống là ở tỉnh Bắc Ninh, nên mới có Vịnh Hạ Long, tức là vịnh Rồng hạ xuống
Rồng bay lên từ Hà Nội lấy thủ đô là Thăng Long và hạ xuống ở vịnh Hạ Long (tỉnh Bắc Ninh). Chỗ này bây giờ là một di tích thiêng liêng và là kỳ quan thế giới được Liên hiệp quốc công nhận.
Ở miền Nam có một con sông gọi là sông Cửu Long, tức là sông có 9 con Rồng (tức chín luồng nước hợp lại như chín con Rồng giao nhau), và có bến Nhà Rồng ở thành phố Hồ Chí Minh. Như thế là Việt Nam chúng ta từ vị khai tổ ở Bắc, nguồn gốc đầu tiên theo truyền thuyết là Lạc Long Quân và nàng Âu Cơ, đến khi Lý Thái Tổ lên ngôi vua và hạ chiếu dời đô về Hà Nội, đặt tên là Thăng Long, rồi có vịnh Hạ Long ở Bắc Ninh là nơi Rồng hạ xuống, tất cả đều có dính dáng đến Rồng.
Như vậy nước Việt Nam chúng ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau đầu, đuôi và giữa đều có Rồng. Theo địa lý thì miền Bắc là đầu Rồng, ở giữa cố đô Huế cũng có bệ Rồng (triều nhà Nguyễn) là mình, và vào trong Nam là chân Rồng, đâu đâu cũng có Rồng hết. Mà Rồng là một linh vật nhanh nhẹn, thông minh, biến hóa khôn lường, đó là một hình tượng rất được dân chúng ưa chuộng. Việt Nam chúng ta là con Rồng cháu Tiên thì chúng ta phải bảo vệ, xây dựng và giữ gìn nó như thế nào để xứng đáng là con Rồng cháu Tiên.
Như vậy là tôi đã nói sơ lược về Rồng có dính đến truyền thuyết dân tộc Việt Nam ta.
Bây giờ tôi nói Rồng có liên quan đến kinh điển Phật giáo. Trong kinh sách Phật có 3 lần Rồng xuất hiện.
Lần thứ nhất là lúc Đức Phật Giáng sinh thì có 9 con Rồng phun nước tắm cho Phật, gọi là Cửu Long phún thủy (Chín con Rồng phun nước để tắm cho Phật). Đó là một tích sử rất xa xưa, bây giờ ở miền Trung ít thấy, còn miền Nam thì nhiều. Các chùa miền Nam khi họ khắc hoặc chạm trổ tượng, bao giờ cũng có tượng Đản sinh, xung quanh có 9 con Rồng đứng hầu, là lấy tích sử Đức Phật ra đời có 9 con Rồng phun nước tắm cho Phật. Đó là Rồng xuất hiện trong kinh sách Phật giáo lần thứ nhất.
Lần thứ hai là trên đường Đức Phật đi giáo hóa sau khi Ngài Thành đạo. Sau ngày Thành đạo, Ngài đến Lộc Uyển thuyết pháp độ cho 5 vị Tỳ kheo Kiều Trần Như xong, Ngài liền nghĩ đến hạng căn cơ nào tiếp theo có thể tiếp nhận được giáo lý của Ngài? Ngài quán biết tại xứ Ấn Độ lúc bấy giờ có 3 anh em ông Ca-diếp gọi là Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Già-da Ca-diếp và Na-đề Ca-diếp, rất nổi tiếng là hàng ngoại đạo rất được kính trọng mà ở đấy họ đang thờ Thần lửa. Ngài muốn hóa độ cho 3 anh em Ca-diếp bằng cách: Hôm ấy Ngài đi qua chỗ cư trú của ông Ca-diếp anh, thì trời tối nên xin vào ở trọ và ngủ lại. Ông anh Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp thấy Ngài hình dung phương phi rạng rỡ, nét mặt thanh thoát, tự tại, giải thoát, ông liền hỏi Ngài: Đạo nhơn có mạnh khỏe không mà xem người vui vẻ như thế? Ngài mới trả lời rằng: "Vô bệnh đệ nhất lợi, thiểu dục tri túc đệ nhất phú, thành tín đệ nhất thân, Niết-bàn đệ nhất lạc" (không bệnh là lợi nhất, biết đủ là giàu nhất, thành tín là thân nhất, Niết-bàn là vui nhất). Vì Phật giáo có những cái nhất như thế nên Phật tử chúng ta khi học hỏi giáo lý của Ngài, đã thâm nhập giáo lý ấy thì cũng rất tự tại và an vui.
Ngài nói xong rồi và hỏi: Ông có bằng lòng cho tôi trọ lại một đêm không? Ông ta trả lời: Cho Đạo nhơn trọ lại tôi không tiếc gì; nhưng tiếc rằng bây giờ đây Tăng chúng đồ đệ của tôi đông quá, không có chỗ để cho Ngài tạm trú, duy chỉ còn một chỗ ở nơi đền thờ Thần Lửa ở bên góc kia, Ngài có thể tạm trú ở đó có được không? Ngài nói, chỗ nào cũng được, ông chỉ cho tôi trọ lại một đêm thì tôi cám ơn vô cùng. Khi đó ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp nói rằng: Tuy tôi nói là nói vậy, nhưng trong đền thờ Thần Lửa đó nguy hiểm lắm, tôi sợ tánh mạng của Ngài bất an, không toàn vẹn được, vì trong đó có con Hỏa Long (Rồng Lửa), hễ người nào vào đó lạ hơi thì nó sẽ phun khói, phun lửa ắt sẽ bị tiêu hết, không cách gì tránh được. Ngài nói cám ơn và xin ông chớ lo. Ông vui lòng chấp nhận cho tôi ở là tốt lắm rồi.
Đến khi Đức Phật vào ở trong đền thờ Thần Lửa đó, con Rồng Lửa ngửi thấy mùi hơi lạ, nó từ trong động trườn ra phun khói. Khi khói phun tới chỗ Ngài, nhưng lạ thay, khói đó dội ngược trở lại nơi chính nó. Nó lại phun lửa, lửa chưa tới Ngài mà dội ngược lại nơi nó. Khi đó con Rồng Lửa mất hết cả thần thông, không làm sao hại Ngài được, nên nó gô mình lại (cuộn tròn) nằm cong núp vào một góc để tránh khói lửa do nó phun ra. Thấy vậy, động lòng từ bi, Đức Phật liền đưa bình bát ra và con Rồng Lửa bay vào đó để lánh nạn, nên trong kinh có chữ hàng Long phục Hổ (hàng phục Rồng và hàng phục Cọp). Vì sao Ngài hàng phục được các loài hung dữ như vậy? Vì Ngài lấy đức từ bi, lấy lửa tam-muội để hàng phục các loài hung dữ ấy.
Lại nói ông Ca-diếp anh, khi thấy lửa trong đền nổi lên, thầy trò ông liền hối nhau múc nước để dội vào trong đền. Thầy trò ông càng dội nước, thì lửa càng bùng lên dữ dội, không cách nào dập tắt được. Ông lấy làm lo lắng cho tính mạng của Ngài và đâm ra hối hận vì đã để Ngài ngủ trong đó.
Bất thình lình, Đức Phật ung dung ôm bình bát từ trong đền thờ Thần Lửa bước ra, thầy trò ông Tần-loa Ca-diếp vô cùng ngạc nhiên, kính phục và bước lại hỏi Ngài. Thưa Đạo nhơn, lâu nay không có ai dám đối địch với con Rồng Lửa hung dữ này cả, nay sao Đạo nhơn hàng phục nó một cách dễ dàng như vậy? Khi gặp Đức Phật ông ta trầm trồ ngợi khen Đức Phật, nhưng trước mặt đồ chúng đệ tử của ông, ông lại nói: Tuy Đạo nhơn ấy có thần thông như vậy nhưng chưa bằng ta.
Khi đệ tử vào trong động để đốt lửa thì lửa không cháy. Ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp nghĩ chắc đây là ông Đạo nhơn làm cho lửa không cháy, chứ không ai vào đây hết, liền quay qua hỏi Đức Phật có đúng không? Đức Phật trả lời: Phải, chính Ta làm. Phật hỏi lại. Vậy các ngươi có muốn đốt lửa lên không? Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp thưa: Dạ, ưng lắm. Vì chúng tôi đang thờ Thần Lửa nên chúng tôi phải đốt lửa cho cháy mãi mãi, không được để cho lửa tắt. Ngài bảo họ tới đốt thì lập tức lửa bừng cháy và cháy mãi, cháy cao, không tài nào làm cho ngọn lửa nhỏ lại được. Ông Ca-diếp anh nói, chắc là vị Đạo nhơn này làm rồi chứ không con ai lẫn vào đây nữa! Ông liền hỏi Ngài có phải Ngài làm không? Đức Phật trả lời: Phải. Phật hỏi lại, thế các ngươi có muốn tắt lửa không? Ông mừng quá nói: Dạ muốn. Phật lấy tay chỉ vào thì lửa tắt. Đến khi hết củi để đốt, đồ đệ đem búa ra bửa thì búa mới nhấc lên trời thì không tài nào hạ xuống được. Ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp nói: Chắc ông Đạo nhơn này làm chứ không ai khác? Ông liền hỏi Phật, có phải Đạo nhơn làm không? Phật nói: Phải. Vậy các ngươi có muốn hạ búa xuống không? Ông nói: Dạ muốn. Thế là Phật chỉ tay một cái thì búa liền hạ xuống.
Tuy thấy thần lực của Đức Phật như vậy, nhưng ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp tự ái nghĩ rằng, xưa nay mình lãnh đạo một số đồ công chúng đông đảo và tự cho mình đã đắc thần thông, giờ đây phép thần thông của ông Đạo nhơn này quá vượt trội mình. Tuy vậy, trước mặt đệ tử ông, ông vẫn luôn miệng nói: Mặc dầu vậy nhưng vẫn chưa bằng ta. Ta đã chứng quả A-la-hán rồi, chứ ông Đạo nhơn này chưa chứng quả A-la-hán. Đức Phật với tâm mình biết tâm của người khác liền nói: Này ông bạn tốt, ông nói như vậy là không đúng sự thật, ông chưa chứng được A-la-hán. Vì nếu ông đã chứng quả A-la-hán rồi thì không còn tâm hơn thua so sánh. Giờ ông còn cái tâm niệm ngã nhơn hơn thua đó chưa hết, ông chưa phải là người đã chứng quả A-la-hán.
Thường lệ đã thành truyền thống, đầu năm mới rằm tháng giêng, các Phật tử đều đến chùa làm lễ cầu an. Trước hết là cầu an cho mình và sau đó là cầu an cho gia đình và xã hội. Đây là một việc làm tốt đẹp để un đúc Bồ-đề tâm và thực hành Bồ-tát hạnh.
Hôm nay là ngày đầu tiên tụng kinh Pháp Hoa cũng là thực hiện ước muốn đó, thay mặt chư Tăng, tôi chúc các Phật tử thân tâm an lạc và cầu nguyện chư Phật, chư vị Bồ-tát, chư vị thiện thần gia hộ cho gia đình các Phật tử và tất cả chúng ta đều được an lành, cát tường như ý.
Năm nay là năm Rồng, tôi sẽ nói chuyện Rồng trong kinh điển Phật giáo và dân tộc Việt Nam.
Rồng là con vật như thế nào? Chưa ai thấy hết, nhưng khắp nơi trên thế giới rất nhiều người tin tưởng có Rồng và hình dung con Rồng mỗi nơi mỗi khác. Ở Ấn Độ gọi Rồng là Naga, Trung Hoa gọi là Long, Việt Nam ta gọi là Rồng. Đó là con vật có hình dạng mình rắn, đầu sư tử, chân cọp. Tuy là tưởng tượng nhưng nó đã trở thành tín ngưỡng phổ thông, rất được quần chúng yêu mến, họ vẽ ra nhiều cách và chính trong sách vở thời xưa, hình dáng con Rồng cũng khá phong phú không kém ngày nay.
Khi đó Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp mới kính phục Đức Phật và nói: Thưa Đạo nhơn, tôi biết cái đạo của Ngài cao hơn cái đạo của tôi, và cho tôi xin làm đệ tử với Ngài. Đức Phật liền chấp nhận. Thế là ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp anh trở thành đệ tử của Đức Phật cùng với 500 đồ chúng đệ tử của ông. Khi đã làm đệ tử của Phật rồi thì bao nhiêu khí cụ thờ Lửa ông sai đem liệng xuống sông Hằng.
Hai người em cũng tu theo đạo thờ Thần Lửa như anh mình ở khúc dưới sông Hằng, thấy đồ thờ Thần Lửa của anh mình sao trôi bồng bềnh trên sông như vậy, họ đoán chắc anh mình có tai nạn gì xảy ra rồi đây. Hai người em liền đi ngược dòng sông để tìm hiểu thực hư ra sao, thì gặp anh mình và đồ chúng đi theo sau Đức Phật. Họ lấy làm lạ vô cùng vì nghĩ anh mình là người có uy tín, tu theo đạo Thờ Lửa là đạo cao thượng, tại sao giờ lại đi theo sau ông Đạo nhơn lạ lùng thế này? Họ liền hỏi anh thì được người anh kể lại cho nghe hết mọi chuyện về Đức Phật. Khi ấy hai người em thấy đạo lực anh mình cao cường như vậy mà cũng thua Phật, liền bàn bạc với nhau và cuối cùng, họ xin đi theo Phật luôn cùng với đồ chúng mỗi người 125 vị. Cộng có 250 đệ tử của hai anh em cũng theo Ngài tu luôn. Như vậy cả ba anh em cộng lại là 750 người đi theo Phật, 500 còn lại là đệ tử của Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên cùng các vị đệ tử khác, nên trong kinh thường nói: Thiên nhị bách ngũ thập nhơn câu (1250 Tỳ kheo đông đủ trong hội thuyết pháp) của Phật. Như vậy là Rồng xuất hiện lần thứ hai trong kinh Phật.
Bây giờ Rồng xuất hiện lần thứ ba.
Các Phật tử đã tụng Kinh lâu ngày rồi có nhớ ở phẩm nào không? Chính nó xuất hiện ở phẩm Đề-bà-đạt-đa. Trong phẩm Đề-bà, Đức Phật phúc chúc cho các vị đệ tử thuyết pháp và các vị Bồ-tát phát nguyện đem Kinh Pháp Hoa đi giáo hóa. Ngài Văn Thù cũng phát nguyện trước Đức Phật là sẽ đem Kinh Pháp Hoa đi giáo hóa các nơi.
Có một hôm, trong hội chúng Đức Phật nói rằng: Các đệ tử của Ta đem Kinh đi giáo hóa khắp nơi, Văn-thù-sư-lợi cũng đem Kinh đi giáo hóa ở Long Cung là chỗ vua Rồng ở, Văn Thù sẽ đến đây ngay hôm nay. Vừa nói xong thì Bồ-tát Văn Thù từ biển xuất hiện. Trí Tích Bồ-tát hỏi Ngài Văn Thù: Mấy lâu nay Ngài đi giáo hóa dưới Long Cung có được nhiều người theo không? Văn Thù trả lời: Thưa Đại sĩ, dạ đông lắm, không kể xiết. Trí Tích Bồ-tát hỏi Ngài Văn Thù rằng: Ngài dạy cho đệ tử pháp môn gì mà người ta theo đông như vậy? Ngài nói: Tôi dạy Kinh Pháp Hoa. Trí Tích Bồ-tát nói: Kinh Pháp Hoa là bộ Kinh thâm diệu, trong khi Ngài giáo hóa như vậy có thấy ai có căn cơ lanh lợi, ngộ hiểu được pháp tu hành thành Phật mau chóng không? Ngài Văn Thù nói: Có. Người ấy là ai? Dạ đó là Long Nữ (là con của Rồng).
Long Nữ mới 8 tuổi mà đã có căn trí rất lanh lợi, tu hành có thể thành Phật đạo một cách mau chóng. Nói vừa xong thì Long Nữ hiện lên. Khi Long Nữ hiện lên thì Ngài Xá-lợi-phất nghi, Ngài nghĩ rằng: Thân người nữ có 5 sự chướng như Đức Phật đã nói: Một là, thân người nữ không được làm Ma vương; hai là không thể làm được vua Trời Phạm Thiên; ba là không thể làm vua Trời Đế Thích; bốn là, không được làm Chuyển Luân Thánh Vương; năm là, không được làm Phật. Thân người nữ có 5 điều chướng ngại như vậy, nhưng ở đây Long Nữ đã là người nữ, mà lại là thân Rồng, thuộc loài súc sinh, thì làm sao mà nói thành Phật mau chóng được? Ngài Xá-lợi-phất nghi lắm. Biết Xá-lợi-phất nghi như vậy nên Long Nữ liền nói rằng: Thưa Tôn-giả Xá-lợi-phất kính mến, giả sử tôi đem chuỗi ngọc này cúng dâng lên Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn liền nhận xâu chuỗi ngọc đó, thời gian đó có mau không? Ngài Xá-lợi-phất trả lời: Rất mau. Long Nữ thưa lại rằng, tôi nay thành Phật cũng mau chóng như thế. Vừa nói xong thì chuyển thân Long Nữ biến thành nam nhân và thành Phật ngay trước hội chúng.
Ở đây chắc các Phật tử cũng nghe nói thân người nữ có 5 điều chướng đó nên không thể làm Ma vương (Chúa tể loài Ma), không thể làm được Phạm thiên vương (làm chúa tể cõi thế gian), không thể làm được Trời Đế Thích (tức là vị trời làm chủ cõi trời 33), không được làm vua Chuyển Luân Thánh Vương (tức là một ông vua đem Chánh pháp cai trị muôn dân). Ông vua đó mỗi lần ra đời thì có bảy thứ báu xuất hiện theo ông, trong các thứ báu đó có một thứ xe báu, khi nào muốn đi thì chiếc xe ấy hiện đến và ông cỡi lên xe ấy để chu du thị sát khắp bốn châu thiên hạ, để quan sát dân tình mà cai trị. Xe ấy đi khắp đông, tây, nam, bắc chỉ trong một canh giờ mà thôi là về chỗ cũ; và thứ năm là, không được làm Phật. Chuyển Luân Thánh Vương là ông vua Thế gian, Đế Thích là ông vua cõi trời Tam thập tam ở Dục giới. Còn Phật là ông vua pháp (Pháp vương). Thân người nữ có trở ngại là không làm được năm chức vị đó cho nên gọi là ngũ chướng. Nói như vậy có khác nào nói rằng, trong Phật Pháp không có sự bình đẳng, trong Phật Pháp cho người nữ thấp hơn người nam hay sao? Nếu nói người nữ thấp hơn người nam thì tại sao có chỗ Phật dạy rằng: "Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật". Đã có tánh Phật thì bất luận nam nữ đều có thể thành Phật. Cho đến với loài súc sinh nếu có tánh tự giác, đều có Phật tánh thì trước sau đều có thể thành Phật được hết.
Tại sao nói thân người nữ có 5 chướng nên không làm được 5 chức vị đó? Chúng ta biết rằng trong nhà Phật, chữ chướng có 3 thứ:
- Phiền não chướng.
- Nghiệp chướng.
- Báo chướng.
Khi tụng kinh lễ Phật, chúng ta đều có nguyện: Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não. Phiền não chướng tức là tham, sân, si, tật đố, kiêu mạn, ích kỷ, ganh tỵ...Tất cả những tật xấu đó gọi chung là phiền não. Những thứ phiền não nầy làm cho tâm người ta bất an, bị sầu muộn, bị dằn vặt, buồn bực, lo lắng như lửa đốt, nên gọi là phiền não. Chúng ta muốn tu nhưng vì các thứ đó nó ngăn ngại nên không tu được. Muốn giải thoát nhưng bị 5 thứ đó làm cho chướng ngại nên không giải thoát được. Muốn được an vui thì bị các phiền não đó làm ta buồn bực không vui được.
Tự chúng ta chiêm nghiệm suy nghĩ về chúng ta cũng đủ hiểu. Tôi lấy một ví dụ: Hằng ngày chúng ta đi tụng kinh rất siêng năng, nhưng hôm đó có người rao lên rằng: Nếu ai đó đến với tôi đúng 6 giờ sáng tôi sẽ biếu cho một thỏi vàng. Chắc chắn khi ấy lòng tham nổi dậy nên cũng có người bỏ tụng kinh, thế là chướng rõ ràng, vì sao? Vì nó ngăn trở con đường tu giải thoát của mình, đó gọi là phiền não chướng. Mình biết rằng sân si là một điều không tốt, là một điều tai hại (nhất niệm sân tâm khởi, bát vạn chướng môn khai, nghĩa là một khi khởi một niệm sân si thì muôn điều chướng ngại nổi lên). Mặc dầu biết như vậy, nhưng khi một ai nói một tiếng về mình mà mình không bằng lòng, thì mình sẽ nổi sân liền, không làm sao mà tu được. Đang đi tụng kinh, giữa đường mà gặp một người nào đó không quen, quẹt vào làm cho mình bị rách áo thì liền quay trở lại sừng sộ cãi lộn với họ đã, chứ còn tụng kinh thì thôi để mai, mốt tụng cũng được. Đó tức là phiền não chướng, vì nó làm chướng ngại con đường giải thoát, con đường tu tập, làm chướng ngại sự tìm đến cảnh an vui thanh tịnh của mọi người.
Thứ hai là nghiệp chướng, tức là cái nghiệp làm chướng ngại con đường tu tập của mình. Tôi thí dụ: Sáng nay đi tụng kinh Pháp Hoa ở chùa Từ Đàm, nhưng khi đạp xe qua chợ Bến Ngự thấy có quán cà phê mùi thơm bốc ra hấp dẫn, thèm quá mình không cưỡng lại được, thôi thì phá lệ ghé qua uống một cốc đã. Cái nghiệp uống cà phê nó lôi đi theo nghiệp uống cà phê, nghiệp ham mê bóng đá nó lôi đi theo nghiệp bóng đá, nghiệp ưa đánh lộn nó lôi theo nghiệp ưa đánh lộn. Bao nhiêu cái nghiệp đó ở nơi chúng sanh hoặc nhiều hoặc ít đều có hết. Nếu nghiệp đó mình không thắng nổi hắn, phải đi theo hắn thì đời đời chìm đắm theo nó, chứ không tiến lên con đường giải thoát, giác ngộ được, nên gọi là nghiệp chướng.
Thứ ba là báo chướng. Báo chướng nghĩa là sinh ra đã gặp quả báo. Có người ưa đi tụng kinh quá mà sao bữa nay trong người không khỏe, bị đau bụng, mai đau chân, mốt nhức đầu, không sao đi tụng kinh được. Họ cũng biết giáo pháp của Đức Phật dạy quí báu vô cùng, muốn đi nghe quá nhưng bữa nay hai tai nó ù, không nghe được. Nghe người ta diễn tả rằng: Tượng Đức Phật rất trang nghiêm, thanh thoát, tự tại, an lạc, họ muốn thấy tượng Đức Phật, muốn chiêm ngưỡng tượng Đức Phật nhưng vì hai con mắt bị mù không thấy được nên gọi là báo chướng.
Vậy khi nói thân người nữ bị năm chướng không làm được 5 chức vị đó là thuộc về loại chướng nào? Nó thuộc về báo chướng chứ không phải nghiệp chướng, cũng không phải phiền não chướng. Bởi thân ta có khi không luận nam hay nữ, khi đã dứt hết phiền não chướng rồi thì không còn phiền não nữa. Trong hiện thân dứt hết phiền não, dứt hết nghiệp chướng rồi thì không còn phiền não và không còn nghiệp chướng nữa, nhưng cái thân báo chướng nơi mình khi sinh ra đã mang cái thân đó. Trong khi mang nó thì thân đàn ông khác, thân đàn bà khác. Thân nam giới có nhiều tự tại hơn, trái lại, thân nữ giới có nhiều cái triền phược hơn, vì bị nhiều triền phược nên cũng bị nhiều ngăn ngại: Do vậy người nữ không được làm Đế Thích, không được làm Ma vương, không được làm Chuyển Luân Thánh Vương, không được làm Phạm Thiên Vương, và không được làm Phật, vì đó là báo chướng chứ không phải nghiệp chướng, không phải phiền não chướng. Bởi vì phiền não chướng cũng y như nam giới, nghiệp chướng cũng y như nam giới không khác gì hết, nhưng vì dư báo trong hiện tại làm chướng ngại, nên không thể làm chủ năm chức vị đó mà thôi. Năm chướng này là năm chướng thuộc về báo chướng chứ không phải phiền não hay nghiệp chướng gì hết. Báo chướng là cái dư báo do mình tạo nghiệp đời trước, nên ngày hôm nay phải chịu báo thân như vậy, cho nên có những vị đắc đạo trong hiện thân, Đức Phật cũng thành đạo trong khi hiện thân chứ không phải Ngài thành đạo lúc nhắm mắt, thế nhưng cái dư báo của sắc thân đó, Ngài cũng phải chịu. Ví như đau ốm, rét lạnh, nhức đầu sổ mũi...là thuộc về báo chướng.
Các vị A la hán cũng vậy, trong hiện tại chứng quả A la hán thì chính các vị đó đã dứt hết phiền não chướng, nghiệp chướng nhưng cũng còn mắc báo chướng nên phải chịu sự triền phược của cái nghiệp báo đó. Như trong kinh có nêu câu chuyện: Có một vị đã chứng A la hán rồi nhưng khi đi khất thực không có ai cúng dường.
Đó là ngài Losaka, vì lẽ trong kiếp trứơc bà mẹ của Ngài rất mộ đạo, hay cúng dường bố thí cho các bậc tu hành, trái lại, ngài thì hay ghét mấy vị đi khất thực. Thấy ngài đâu là ngài ối đổ nấy, vì vậy nên không có ai dám đến nhà của ngài để khất thực, mặc dầu pháp khất thực của các nhà sư thì không phân biệt nhà nào hết, nhà nào cũng phải đi ngang qua cả. Nhưng bữa đó, có một vị Bích Chi Phật đến khất thực nơi nhà của ngài, khi ấy ngài không có ở nhà. Bà mẹ đem cúng dường Bích Chi Phật những thực phẩm tốt nhất. Khi vị Bích Chi Phật vừa đi ra khỏi thì gặp Losaka trở về, thấy vậy liền tra hỏi vị Bích Chi Phật rằng: Ông vào xin trong nhà tôi có gì không? Ngài trả lời: Có. Ông biểu ngài đưa bình bát cho ông coi và thấy trong bình bát có thức ăn. Ông giành lấy bình bát của ngài và đổ xuống đất và lấy chân chà cho nát. Vì tạo nghiệp không tốt đối với vị Bích Chi Phật nên kiếp sau, ngài bị luân hồi và sanh vào trong nhà người chài lưới ở miền biển rất nghèo. Làng này lâu nay làm ăn cũng khá, bữa được bữa mất nhưng không bao giờ đói. Nhưng từ khi sanh ngài ra thì nhà ấy và làng buôn luôn luôn bị mất mùa, đói kém. Họ bèn điều tra xem xét và được biết kể từ khi ngài có mặt thì làm thiệt hại cả làng, nhưng chưa ai dám nói ra.
Một hôm để xác minh có phải ngài là người làm cho cả làng bị thiệt hại như vậy không, họ bèn chia làng ấy ra làm hai thôn: Thôn trên và thôn dưới. Thôn không có ngài Losaka ở thì làm ăn phát đạt, trái lại, thôn có ngài Losaka sinh và đang ở đó thì luôn luôn mất mùa, đói kém. Khi đã biết chính ngài là người làm cho cả thôn bị đói kém, họ liền đuổi hai mẹ con ngài đi. Cả hai mẹ con dắt nhau đi xin, nhưng tới đâu cũng không ai cho gì hết. Khi bà mẹ để ngài ở nhà đi xin một mình thì họ cho rất nhiều, còn nếu mang ngài đi theo thì không ai cho cả. Bà mẹ cảm thấy chán nản và định bỏ rơi con. May thay một hôm gặp ngài Xá-lợi-phất, ngài nhìn thấy Losaka mặc dầu mắc quả báo như vậy, nhưng có căn chủng rất tốt nên ngài nhận đem về nuôi dạy. Ngài dạy cho Losaka học và tu hành, sau đó không bao lâu thì chứng quả A la hán. Mặc dầu chứng quả A la hán nhưng đến khi đi khất thực, khất đâu cũng không được. Buổi sáng ngài đi khất thực thì các thí chủ chưa mở cửa. Ngài đợi gần trưa đi khất thực thì người ta đã cúng dường cho mấy vị trước rồi, đến khi ngài đi tới thì hết thức ăn. Khi ngài đi chặng giữa cũng có người cúng, nhưng khi ngồi ăn thì quạ xuống giành mất, cứ như vậy nên ngài phải chịu đói luôn. Thấy vậy ngài Xá-lợi-phất liền đi khất thực đem về cho ngài ăn. Khi đưa cơm cho ngài Losaka ăn, ngài vừa bưng bình bát lên thì cơm liền biến mất. Ngài Xá-lợi-phất phải tự bưng bình bát để Losaka ăn. Ngài tuy chứng A la hán nhưng vẫn bị quả báo như vậy. Sự việc của ngài Losaka mà tôi vừa kể trên là bị báo chướng chứ không phải bị nghiệp chướng lại càng không phải bị phiền não chướng.
Trong kinh Pháp Hoa nơi Phẩm Đề-bà mà ngài Xá-lợi-phất nghi Long nữ không thể thành Phật được, vì thân người nữ có 5 chướng ngại nên không thể thành Phật được, là thuộc về báo chướng chứ không phải nghiệp hoặc phiền não chướng. Qua đó chúng ta mới thấy tính cách bình đẳng của Phật, Ngài nói: "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh như nhau, không có gì sai khác".
Hôm nay nhân chuyện năm Rồng, tôi kể chuyện Rồng như vậy để các Phật tử rõ và chúng ta cũng nên biết rằng, học Phật phải biết nghiệp chướng là gì, phiền não chướng là gì, báo chướng là gì, để chúng ta sách tấn tu tập, hầu dứt trừ ba thứ chướng đó để được tự tại an vui và giải thoát.
Trích "Phật Ở Trong Lòng" của HT Thích Thiện Siêu
Source link ------> Con Rồng trong Kinh Điển Phật Giáo -- HT Thích Thiện Siêu
Long Vương - HoPhap.Net
Con Rồng trong Kinh Điển Phật Giáo
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, vị thủy tổ đầu tiên về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam là do Lạc Long Quân gặp nàng Âu Cơ ở Động Đình Hồ, sau đó sinh ra một cái bọc trăm trứng, từ bọc đó nở ra trăm người con. Lạc Long Quân là cốt Rồng, Âu Cơ là cốt Tiên, khi sinh ra 100 người con như vậy, Rồng vốn ở nước, Tiên ở núi cho nên mới chia 100 người con ra hai phần: 50 người đi theo cha xuống biển, 50 người đi theo mẹ lên núi, từ đó dân tộc ta có nguồn gốc là con Rồng cháu Tiên.
Khi dân tộc ta có nguồn gốc con Rồng cháu Tiên thì chúng ta là dòng giống Rồng Tiên. Dòng giống Rồng Tiên vốn là dòng giống cao cả, oai phong, dũng cảm. Rồng Tiên có sức mạnh phi thường và khả năng biến hóa khôn lường.
Đời Lý có vua Lý Công Uẩn, con nuôi của Thiền sư Lý Khánh Vân, được sự dạy dỗ giúp đỡ của Thiền sư Vạn Hạnh, là hai vị Thiền sư đầu đời Lý rất nổi tiếng về đạo hạnh và trí tuệ thông bác hơn người.
__._,_.___
RECENT ACTIVITY: New Members 9
Visit Your Group
MARKETPLACE
Stay on top of your group activity without leaving the page you're on - Get the Yahoo! Toolbar now.
Switch to: Text-Only, Daily Digest • Unsubscribe • Terms of Use
Thursday, January 19, 2012
Wednesday, January 18, 2012
MUOI HAI LOI NGUYEN DUOC SU
Ý Nghĩa Danh Hiệu ĐỨC DƯỢC SƯ VÀ 12 NGUYỆN
– Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
– Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Dược là thuốc, Sư là thầy. Phật tên Dược Sư Lưu Ly Quang Vương. Kinh tên Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức. Dươc Sư là ông thầy thuốc. Lưu Ly là một thứ ngọc trong suốt từ trong ra ngoài. Thiền tông có khẩu hiệu “đập vỡ thùng sơn”. Thùng sơn ví thân ngũ ấm của chúng ta. Trong đen xì ngã chấp, ngoài đặc xịt pháp chấp. Có phá vỡ thùng sơn thì việc làm của người tu hành mới xong. Bát Nhã Tâm Kinh dạy : “Chiếu kiến năm uẩn đều không, độ thoát hết thảy khổ ách”. Tướng mạo tối đặc như thùng sơn đen là do 2 căn bệnh chính : kiến hoặc và tư hoặc. Kiến hoặc là thấy lầm, tư hoặc là nghĩ lầm.
Dùng danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật để trong uống ngoài xoa. Trong uống là mỗi mống niệm vọng tưởng (tư hoặc) liền biết. Biết vọng thì vọng tan. Mỗi khi tham sân si hiện hành liền biết gốc do kiến hoặc. Cần thanh tịnh sáu căn. Đề khởi hai chữ Dược Sư là tự nhắc bổn phận thiết yếu, từng niệm từng niệm giác sát, thanh lọc nơi tâm. Thế là trong uống. Còn ngoài xoa là tin chắc có nguyện lực của Phật hộ niệm. Phật không ở đâu xa. Phật thường trụ ngay tại đương niệm. Chúng ta chỉ vì phan duyên, thọ kích thích, tưởng biến hóa, sắc làm mù, năm ấm che lấp khiến tựa hồ như xa cách Phật.
Tổ dạy : “Tâm bình thường là đạo”. Tâm bình thường là Lưu Ly, trong không bị tư hoặc làm mê, không bệnh ngã chấp. Ngoài không bị kiến hoặc đánh lừa, giải thoát pháp chấp. Quang nghĩa là sáng suốt. Sáng đây không phải là ánh sáng mặt trời mặt trăng. Ánh sáng trí tuệ thuộc tinh thần không có hình tướng. Trong khi niệm, nghe âm thanh rõ ràng không mờ, từng tiếng minh bạch là tánh giác sáng tỏ. Nếu nghe không rõ, thì hoặc bị hôn trầm, hoặc đã vướng vào một trần cảnh nào khác. Tánh nghe chính là tánh giác ở khắp pháp giới. Nghe rõ tiếng niệm tức là ngay lúc ấy, ta đã trở về tánh thể. Tánh này đồng với chư Phật và dĩ nhiên đồng với đức Dược Sư Lưu Ly Quang. Niệm danh hiệu ngài để tự nhắc tâm mình, tâm Phật vẫn thường trụ ở khắp mười phương không rời nhau.
Kinh Lăng Nghiêm dạy : “Mười phương Như lai thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con trốn chạy thì mẹ dẫu nhớ có làm gì được. Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, mẹ con đời đời chẳng rời xa nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật niệm Phật, đời này đời sau quyết định thấy Phật”. Không nói trong suốt như pha lê mà nói trong suốt như lưu ly, vì ngọc lưu ly màu xanh lơ (xanh da trời). Ngửa lên bầu hư không, ta thấy một màu xanh nhè nhẹ. Tìm thể chất thì chỉ có hư không nên đức Phật dùng màu này tượng trưng những gì huyễn vọng, không thật có. Năm ấm, ngã chấp, pháp chấp, kiến hoặc, tư hoặc v.v…, bao nhiêu bệnh hoạn nặng nề của thế gian, dưới con mắt Phật, chỉ là những hoa đốm ở hư không. Cứ chữa khỏi bệnh lóa ở mắt thì hoa đốm sẽ không còn. Cứ tỉnh ra, đừng ngủ mơ nữa thì những giấc mộng cọp vồ, nhà cháy đâu còn. Mặt trời trí tuệ của tất cả chúng sanh bản lai vẫn thường sáng. Chỉ vì chuyên sống với tâm phan duyên, quên tánh bản giác mà hóa thành thùng sơn năm uẩn. Nay vâng theo giáo pháp Dược Sư, chuyên trì danh hiệu Phật, sẽ thoát vô minh sanh tử, trở về bổn tâm viên quang.
Dược Sư là công dụng. Lưu Ly là thể tịnh. Quang là tánh giác. Chữ Vương là hình-dung-từ để hiển công dụng thù thắng, thể thanh tịnh, tánh quang minh, mỗi mỗi tuyệt vời. Bao nhiêu nguyện đã phát ra từ lúc tu nhân làm Bồ-tát, ngày nay thành Phật tức là đã viên mãn. Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang đã nguyện những gì ?
1/. Nguyện chứng Pháp-thân thường trụ ở khắp mười phương. Nhưng không phải chỉ chứng lý suông mà kiêm sự việc thiết thực, ta và người đều đủ ba mươi hai đại nhân tướng.
2/. Nói về quang minh. Quang minh không phải chỉ giác ngộ mà có. Cần nhiều kiếp công hạnh mới thành tựu. Kinh Bảo Tích nói : “Đức Thích Ca có một quang minh tên là Vân Tịnh Chiếu. Đây do nhiều kiếp tích tập thiện căn, xót thương những người bệnh khổ, cấp thí thuốc men, mong cho lành mạnh”.
3/. Đầy đủ trí tuệ phương tiện, cung ứng tất cả chỗ cần dùng cho khắp hữu tình.
4/. Dẫn tà đạo về chánh pháp, đưa nhị thừa lên Vô-thượng Bồ-đề.
5/. Ai chưa có giới phẩm giúp vào giới phẩm. Ai lỡ phạm giới khiến trở về tịnh giới, chẳng đọa đường ác.
6/. Cứu giúp các tật nguyền.
7/. Chữa khỏi các bệnh hoạn.
8/. Chuyển những tinh thần nhi nữ mềm yếu trở thành dũng mãnh trượng phu, tiến tới quả vị đại hùng lực.
9/. Giúp các hữu tình thoát chài lưới ma, ngoại đạo ràng buộc, rừng rậm ác kiến.
10/. + 11/. + 12/. Cứu vớt tai nạn ngục tù đói rét. Nhất là những nỗi khổ bức bách khiến tạo nghiệp ác, chiêu vời quả báo triền miên nhiều kiếp. Ngoài ra còn nguyện chuyển những tâm tham sẻn thành quảng đại từ bi. Đầu mắt chân tay còn bố thí huống chi các tài vật khác. Con đường giải thoát đòi hỏi giới hạnh trang nghiêm, chánh kiến, đa văn. Một chút kiêu mạn liền thành bạn của ma, khen mình chê người, phỉ báng chánh pháp, làm cho vô lượng hữu tình cùng theo xuống hố hiểm sâu. Những bệnh ghen ghét ngang ngược, hiềm thù lấn hiếp, bao nhiêu thống khổ sanh già bệnh chết, đức Phật đều nguyện dùng thần lực khiến giải thoát nhân quả ác thú, dần dần dắt dẫn tới Vô-thượng Bồ-đề.
Chúng ta tụng kinh, hàng ngày huân tập tư tưởng quảng đại từ bi, ước mong thể nhập vào biển đại nguyện của đức Dược Sư. Tập sống như ngài, mỗi niệm mỗi niệm mong đem hạnh phúc an vui cho quanh mình, chẳng còn có sợ những khổ ác thú. Nguyện từ nay gánh vác hết thảy hữu tình, làm việc nghĩa lợi nhiêu ích an vui.
Bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng ta về thánh cảnh. Mười hai nguyện của đức Dược Sư cúi xuống vớt chúng ta ra khỏi vực thẳm ác thú, bảo vệ chánh kiến và đưa chúng ta vào thắng pháp.
A Di Đà Tàu dịch là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, Vô Biên Công Đức. Nói một cách khác A Di Đà là chân tâm bản tánh của tất cả thánh phàm, là quả đức cầu về của tất cả Phật tử.
Dược Sư là giới, Lưu Ly là định, Quang Vương là tuệ, ba nhân tu thiết yếu hiện tại của tất cả các pháp môn.
Thờ Phật Dược Sư phải 49 ngọn đèn. Hai vị Bồ-tát hầu cận tên là Nhật Quang Biến Chiếu và Nguyệt Quang Biến Chiếu. Bởi vì khoen đầu của mười hai nhân duyên sanh tử là vô minh nên thuốc chữa không thể rời trí tuệ. Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Kinh gồm có bảy bộ. Ngài Huyền Trang cầu pháp ở Ấn Độ đã thỉnh và dịch trọn vẹn tất cả sang tiếng Hán. Nguyên vì đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thương xót chúng sanh ác trược, chịu nhiều quả báo đau khổ nên nói cho biết về phương Đông có bảy vị Dược Sư Phật. Mỗi vị đều có nguyện riêng. Tổng ý là chữa phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng, khiến chúng sanh được an thân vui khỏe vĩnh viễn.
Chúng ta đã biết mỗi vị Bồ-tát khi thành Phật đều có một thế giới để giáo hóa tất cả những kẻ có duyên. Thế giới duy tâm cảm quả. Báo thân Phật do “Trí” hiện hành.
– Vận Ý Thông Chứng nghĩa là khởi tâm cầu chứng ngộ. Đây là tâm địa tối thắng không gì hơn nên thế giới tên Tối Thắng.
– Quán Âm Tự Tại là tánh nghe không bị âm thanh chi phối chuyển động. Đây là tánh Phật, của báu vô giá, mỗi chúng ta đều có nhưng rất ít người biết đến. Vì vậy thế giới tên là Diệu Bảo.
– Tâm địa vô ưu không lo lắng, hẳn bình an khang cát nên Phật tên là Tối Thắng Cát Tường.
– Tịnh trụ là ở chỗ an tĩnh, dễ bề phát triển trí tuệ, nên Phật hiệu là Quảng Đạt Trí Biện.
– Pháp Hỷ tâm vui thích Phật pháp, cảm quả báo thành Phật hiệu là Pháp Hải Du Hý Như Lai (vui chơi trong biển pháp).
– Hạnh viên mãn nên Phật hiệu là Kim Sắc Thành Tựu, thân vàng đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu.
Chúng ta lễ bái bảy danh hiệu, chớ quên con đường Dược Sư, tự chữa bệnh cho mình, chữa bệnh cho chúng sanh, trước hết phải phát tâm Bồ-đề cầu chứng ngộ. Sau tìm nhân tu cho liễu nghĩa. Như người làm ruộng phải lo chọn hạt giống. Người lập chí giác tỉnh phải y cứ Phật tánh mà tu. Trợ duyên phát sanh trí tuệ là an tĩnh và Phật pháp. Đủ nhân đủ duyên quyết định viên mãn Bồ-đề.
– Thật ra Phật và Bồ-tát nào không chữa bệnh, không phải là thầy thuốc. Phật và Bồ-tát nào không tiếp dẫn chúng sanh về cảnh an vui. Mà sao đạo Phật lại đặc biệt hướng về phương Đông cầu an, hướng về phương Tây cầu siêu. Trong khi kinh dạy chân tâm bản lai thường trụ bất động ở khắp mười phương, không hề riêng cuộc ?
– Thưa : Cầu an hướng về phương Đông vì mặt trời mọc nêu biểu sinh hoạt. Cầu siêu hướng về phương Tây vì mặt trời lặn nêu biểu tịch diệt. Trên sự thật thì quả đất xoay tròn đâu có Đông Tây. Mặt trời đứng trụ đâu có mọc lặn. Nhưng rõ ràng trong đời sống hiện tại của chúng ta vẫn có Đông Tây trong không gian, vẫn có mặt trời lặn rồi mọc để thành có hôm qua, hôm nay và ngày mai. Thời gian hư vọng nhưng vọng kiến của con người không thể thiếu cái lịch để cùng nhau thỏa thuận nào ngày, nào tháng, nào năm…
Vì khế cơ nên đức Phật tùy theo cuộc đời sanh tử, xếp đặt giáo pháp có Đông có Tây, để chúng sanh động loạn có phương hướng quay về, an định tinh thần, dần dần giải thoát. Nhưng vẫn khế lý, mắt Phật thấy trong không gian vô tận có vô biên thế giới khổ vui đẹp xấu khác nhau. Đúng như sự thật Phật đã thấy, tương đối với trái đất của chúng ta, phương Đông có cõi Tịnh Lưu Ly, phương Tây có cõi Cực Lạc. Chúng ta học Phật nên nhận định cẩn thận cả hai pháp giới Sự và Lý.
Chớ để nghi ngờ trong tâm, ngõ hầu mạnh mẽ thẳng tới vô ngại giải thoát. Tuy Dược Sư Bản Nguyện có bảy bộ nhưng lưu hành tới Việt Nam chỉ có một bộ của đức Lưu Ly Quang vì Việt Nam đặc biệt sùng bái tông Tịnh-độ. Pháp môn trì danh rất được thịnh hành. Dược Sư Bản Nguyện Kinh có đoạn : “Nếu ai chịu giữ tám phần trai giới, ít nhất ba tháng, được nghe danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, thời khi lâm chung sẽ có tám vị đại Bồ-tát chỉ đường về thế giới An Lạc trong đám hoa báu nhiều màu sắc đẹp”. Khắp cuốn Bổn Nguyện này nhiệt liệt khuyên trì danh hiệu Phật. Vì thế cuốn Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Kinh được coi là một pháp môn của tông Tịnh-độ, trì danh cầu sanh Tây phương An Lạc thế giới. Pháp môn Dược Sư cũng như tất cả các pháp môn khác đều có hai phần : Hiển giáo và Mật giáo. Hiển giáo giảng dạy rõ ràng đường lối tu hành. Người tu học biết rồi, tự lực tự đi. Còn Mật giáo, người tu chỉ đem lòng tin trì tụng thần chú. Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Thí Dụ, ông trưởng giả đặt sẵn ở cửa sổ chiếc ghế, đứa con nào khỏe chân tự nhảy ra mà thoát nạn. Còn Mật giáo ví như vạt áo, ông trưởng giả che đầu các con, đưa ra khỏi nhà lửa, không bị nóng bức, không mất công nhiều, toàn nhờ sức cha các con thoát nạn. Nay lại thêm một ví dụ : Ông kỹ sư tự chế tạo ra đèn điện, tha hồ sử dụng ánh sáng. Ông lại chế ra nút bấm, khiến người khác không cần vất vả học hành, chỉ việc bấm nút liền có đèn sáng, thọ dụng tha hồ như ông không khác. Cũng thế, đức Phật nói thần chú. Chúng ta trì chú cũng đi đến kết quả như Phật không khác. Nhưng cần để ý : bấm nút mà đèn cháy được là nhờ bóng đèn, dây và sức điện đều đúng pháp. Trì chú thần lực cũng vậy, ba nghiệp phải đúng pháp mới linh nghiệm.
Khi trì chú tưởng vòng tròn tâm nguyệt từ chữ Tông màu trắng phóng ra hào quang sáng lớn, khắp chiếu chúng hữu tình. Ánh sáng tới thân sáu đạo chúng sanh thì giới ba la mật của chư Phật liền viên mãn. Trong một thời này làm chân Phật tử.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
– Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
– Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Dược là thuốc, Sư là thầy. Phật tên Dược Sư Lưu Ly Quang Vương. Kinh tên Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức. Dươc Sư là ông thầy thuốc. Lưu Ly là một thứ ngọc trong suốt từ trong ra ngoài. Thiền tông có khẩu hiệu “đập vỡ thùng sơn”. Thùng sơn ví thân ngũ ấm của chúng ta. Trong đen xì ngã chấp, ngoài đặc xịt pháp chấp. Có phá vỡ thùng sơn thì việc làm của người tu hành mới xong. Bát Nhã Tâm Kinh dạy : “Chiếu kiến năm uẩn đều không, độ thoát hết thảy khổ ách”. Tướng mạo tối đặc như thùng sơn đen là do 2 căn bệnh chính : kiến hoặc và tư hoặc. Kiến hoặc là thấy lầm, tư hoặc là nghĩ lầm.
Dùng danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật để trong uống ngoài xoa. Trong uống là mỗi mống niệm vọng tưởng (tư hoặc) liền biết. Biết vọng thì vọng tan. Mỗi khi tham sân si hiện hành liền biết gốc do kiến hoặc. Cần thanh tịnh sáu căn. Đề khởi hai chữ Dược Sư là tự nhắc bổn phận thiết yếu, từng niệm từng niệm giác sát, thanh lọc nơi tâm. Thế là trong uống. Còn ngoài xoa là tin chắc có nguyện lực của Phật hộ niệm. Phật không ở đâu xa. Phật thường trụ ngay tại đương niệm. Chúng ta chỉ vì phan duyên, thọ kích thích, tưởng biến hóa, sắc làm mù, năm ấm che lấp khiến tựa hồ như xa cách Phật.
Tổ dạy : “Tâm bình thường là đạo”. Tâm bình thường là Lưu Ly, trong không bị tư hoặc làm mê, không bệnh ngã chấp. Ngoài không bị kiến hoặc đánh lừa, giải thoát pháp chấp. Quang nghĩa là sáng suốt. Sáng đây không phải là ánh sáng mặt trời mặt trăng. Ánh sáng trí tuệ thuộc tinh thần không có hình tướng. Trong khi niệm, nghe âm thanh rõ ràng không mờ, từng tiếng minh bạch là tánh giác sáng tỏ. Nếu nghe không rõ, thì hoặc bị hôn trầm, hoặc đã vướng vào một trần cảnh nào khác. Tánh nghe chính là tánh giác ở khắp pháp giới. Nghe rõ tiếng niệm tức là ngay lúc ấy, ta đã trở về tánh thể. Tánh này đồng với chư Phật và dĩ nhiên đồng với đức Dược Sư Lưu Ly Quang. Niệm danh hiệu ngài để tự nhắc tâm mình, tâm Phật vẫn thường trụ ở khắp mười phương không rời nhau.
Kinh Lăng Nghiêm dạy : “Mười phương Như lai thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con trốn chạy thì mẹ dẫu nhớ có làm gì được. Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, mẹ con đời đời chẳng rời xa nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật niệm Phật, đời này đời sau quyết định thấy Phật”. Không nói trong suốt như pha lê mà nói trong suốt như lưu ly, vì ngọc lưu ly màu xanh lơ (xanh da trời). Ngửa lên bầu hư không, ta thấy một màu xanh nhè nhẹ. Tìm thể chất thì chỉ có hư không nên đức Phật dùng màu này tượng trưng những gì huyễn vọng, không thật có. Năm ấm, ngã chấp, pháp chấp, kiến hoặc, tư hoặc v.v…, bao nhiêu bệnh hoạn nặng nề của thế gian, dưới con mắt Phật, chỉ là những hoa đốm ở hư không. Cứ chữa khỏi bệnh lóa ở mắt thì hoa đốm sẽ không còn. Cứ tỉnh ra, đừng ngủ mơ nữa thì những giấc mộng cọp vồ, nhà cháy đâu còn. Mặt trời trí tuệ của tất cả chúng sanh bản lai vẫn thường sáng. Chỉ vì chuyên sống với tâm phan duyên, quên tánh bản giác mà hóa thành thùng sơn năm uẩn. Nay vâng theo giáo pháp Dược Sư, chuyên trì danh hiệu Phật, sẽ thoát vô minh sanh tử, trở về bổn tâm viên quang.
Dược Sư là công dụng. Lưu Ly là thể tịnh. Quang là tánh giác. Chữ Vương là hình-dung-từ để hiển công dụng thù thắng, thể thanh tịnh, tánh quang minh, mỗi mỗi tuyệt vời. Bao nhiêu nguyện đã phát ra từ lúc tu nhân làm Bồ-tát, ngày nay thành Phật tức là đã viên mãn. Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang đã nguyện những gì ?
1/. Nguyện chứng Pháp-thân thường trụ ở khắp mười phương. Nhưng không phải chỉ chứng lý suông mà kiêm sự việc thiết thực, ta và người đều đủ ba mươi hai đại nhân tướng.
2/. Nói về quang minh. Quang minh không phải chỉ giác ngộ mà có. Cần nhiều kiếp công hạnh mới thành tựu. Kinh Bảo Tích nói : “Đức Thích Ca có một quang minh tên là Vân Tịnh Chiếu. Đây do nhiều kiếp tích tập thiện căn, xót thương những người bệnh khổ, cấp thí thuốc men, mong cho lành mạnh”.
3/. Đầy đủ trí tuệ phương tiện, cung ứng tất cả chỗ cần dùng cho khắp hữu tình.
4/. Dẫn tà đạo về chánh pháp, đưa nhị thừa lên Vô-thượng Bồ-đề.
5/. Ai chưa có giới phẩm giúp vào giới phẩm. Ai lỡ phạm giới khiến trở về tịnh giới, chẳng đọa đường ác.
6/. Cứu giúp các tật nguyền.
7/. Chữa khỏi các bệnh hoạn.
8/. Chuyển những tinh thần nhi nữ mềm yếu trở thành dũng mãnh trượng phu, tiến tới quả vị đại hùng lực.
9/. Giúp các hữu tình thoát chài lưới ma, ngoại đạo ràng buộc, rừng rậm ác kiến.
10/. + 11/. + 12/. Cứu vớt tai nạn ngục tù đói rét. Nhất là những nỗi khổ bức bách khiến tạo nghiệp ác, chiêu vời quả báo triền miên nhiều kiếp. Ngoài ra còn nguyện chuyển những tâm tham sẻn thành quảng đại từ bi. Đầu mắt chân tay còn bố thí huống chi các tài vật khác. Con đường giải thoát đòi hỏi giới hạnh trang nghiêm, chánh kiến, đa văn. Một chút kiêu mạn liền thành bạn của ma, khen mình chê người, phỉ báng chánh pháp, làm cho vô lượng hữu tình cùng theo xuống hố hiểm sâu. Những bệnh ghen ghét ngang ngược, hiềm thù lấn hiếp, bao nhiêu thống khổ sanh già bệnh chết, đức Phật đều nguyện dùng thần lực khiến giải thoát nhân quả ác thú, dần dần dắt dẫn tới Vô-thượng Bồ-đề.
Chúng ta tụng kinh, hàng ngày huân tập tư tưởng quảng đại từ bi, ước mong thể nhập vào biển đại nguyện của đức Dược Sư. Tập sống như ngài, mỗi niệm mỗi niệm mong đem hạnh phúc an vui cho quanh mình, chẳng còn có sợ những khổ ác thú. Nguyện từ nay gánh vác hết thảy hữu tình, làm việc nghĩa lợi nhiêu ích an vui.
Bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng ta về thánh cảnh. Mười hai nguyện của đức Dược Sư cúi xuống vớt chúng ta ra khỏi vực thẳm ác thú, bảo vệ chánh kiến và đưa chúng ta vào thắng pháp.
A Di Đà Tàu dịch là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, Vô Biên Công Đức. Nói một cách khác A Di Đà là chân tâm bản tánh của tất cả thánh phàm, là quả đức cầu về của tất cả Phật tử.
Dược Sư là giới, Lưu Ly là định, Quang Vương là tuệ, ba nhân tu thiết yếu hiện tại của tất cả các pháp môn.
Thờ Phật Dược Sư phải 49 ngọn đèn. Hai vị Bồ-tát hầu cận tên là Nhật Quang Biến Chiếu và Nguyệt Quang Biến Chiếu. Bởi vì khoen đầu của mười hai nhân duyên sanh tử là vô minh nên thuốc chữa không thể rời trí tuệ. Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Kinh gồm có bảy bộ. Ngài Huyền Trang cầu pháp ở Ấn Độ đã thỉnh và dịch trọn vẹn tất cả sang tiếng Hán. Nguyên vì đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thương xót chúng sanh ác trược, chịu nhiều quả báo đau khổ nên nói cho biết về phương Đông có bảy vị Dược Sư Phật. Mỗi vị đều có nguyện riêng. Tổng ý là chữa phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng, khiến chúng sanh được an thân vui khỏe vĩnh viễn.
Chúng ta đã biết mỗi vị Bồ-tát khi thành Phật đều có một thế giới để giáo hóa tất cả những kẻ có duyên. Thế giới duy tâm cảm quả. Báo thân Phật do “Trí” hiện hành.
– Vận Ý Thông Chứng nghĩa là khởi tâm cầu chứng ngộ. Đây là tâm địa tối thắng không gì hơn nên thế giới tên Tối Thắng.
– Quán Âm Tự Tại là tánh nghe không bị âm thanh chi phối chuyển động. Đây là tánh Phật, của báu vô giá, mỗi chúng ta đều có nhưng rất ít người biết đến. Vì vậy thế giới tên là Diệu Bảo.
– Tâm địa vô ưu không lo lắng, hẳn bình an khang cát nên Phật tên là Tối Thắng Cát Tường.
– Tịnh trụ là ở chỗ an tĩnh, dễ bề phát triển trí tuệ, nên Phật hiệu là Quảng Đạt Trí Biện.
– Pháp Hỷ tâm vui thích Phật pháp, cảm quả báo thành Phật hiệu là Pháp Hải Du Hý Như Lai (vui chơi trong biển pháp).
– Hạnh viên mãn nên Phật hiệu là Kim Sắc Thành Tựu, thân vàng đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu.
Chúng ta lễ bái bảy danh hiệu, chớ quên con đường Dược Sư, tự chữa bệnh cho mình, chữa bệnh cho chúng sanh, trước hết phải phát tâm Bồ-đề cầu chứng ngộ. Sau tìm nhân tu cho liễu nghĩa. Như người làm ruộng phải lo chọn hạt giống. Người lập chí giác tỉnh phải y cứ Phật tánh mà tu. Trợ duyên phát sanh trí tuệ là an tĩnh và Phật pháp. Đủ nhân đủ duyên quyết định viên mãn Bồ-đề.
– Thật ra Phật và Bồ-tát nào không chữa bệnh, không phải là thầy thuốc. Phật và Bồ-tát nào không tiếp dẫn chúng sanh về cảnh an vui. Mà sao đạo Phật lại đặc biệt hướng về phương Đông cầu an, hướng về phương Tây cầu siêu. Trong khi kinh dạy chân tâm bản lai thường trụ bất động ở khắp mười phương, không hề riêng cuộc ?
– Thưa : Cầu an hướng về phương Đông vì mặt trời mọc nêu biểu sinh hoạt. Cầu siêu hướng về phương Tây vì mặt trời lặn nêu biểu tịch diệt. Trên sự thật thì quả đất xoay tròn đâu có Đông Tây. Mặt trời đứng trụ đâu có mọc lặn. Nhưng rõ ràng trong đời sống hiện tại của chúng ta vẫn có Đông Tây trong không gian, vẫn có mặt trời lặn rồi mọc để thành có hôm qua, hôm nay và ngày mai. Thời gian hư vọng nhưng vọng kiến của con người không thể thiếu cái lịch để cùng nhau thỏa thuận nào ngày, nào tháng, nào năm…
Vì khế cơ nên đức Phật tùy theo cuộc đời sanh tử, xếp đặt giáo pháp có Đông có Tây, để chúng sanh động loạn có phương hướng quay về, an định tinh thần, dần dần giải thoát. Nhưng vẫn khế lý, mắt Phật thấy trong không gian vô tận có vô biên thế giới khổ vui đẹp xấu khác nhau. Đúng như sự thật Phật đã thấy, tương đối với trái đất của chúng ta, phương Đông có cõi Tịnh Lưu Ly, phương Tây có cõi Cực Lạc. Chúng ta học Phật nên nhận định cẩn thận cả hai pháp giới Sự và Lý.
Chớ để nghi ngờ trong tâm, ngõ hầu mạnh mẽ thẳng tới vô ngại giải thoát. Tuy Dược Sư Bản Nguyện có bảy bộ nhưng lưu hành tới Việt Nam chỉ có một bộ của đức Lưu Ly Quang vì Việt Nam đặc biệt sùng bái tông Tịnh-độ. Pháp môn trì danh rất được thịnh hành. Dược Sư Bản Nguyện Kinh có đoạn : “Nếu ai chịu giữ tám phần trai giới, ít nhất ba tháng, được nghe danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, thời khi lâm chung sẽ có tám vị đại Bồ-tát chỉ đường về thế giới An Lạc trong đám hoa báu nhiều màu sắc đẹp”. Khắp cuốn Bổn Nguyện này nhiệt liệt khuyên trì danh hiệu Phật. Vì thế cuốn Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Kinh được coi là một pháp môn của tông Tịnh-độ, trì danh cầu sanh Tây phương An Lạc thế giới. Pháp môn Dược Sư cũng như tất cả các pháp môn khác đều có hai phần : Hiển giáo và Mật giáo. Hiển giáo giảng dạy rõ ràng đường lối tu hành. Người tu học biết rồi, tự lực tự đi. Còn Mật giáo, người tu chỉ đem lòng tin trì tụng thần chú. Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Thí Dụ, ông trưởng giả đặt sẵn ở cửa sổ chiếc ghế, đứa con nào khỏe chân tự nhảy ra mà thoát nạn. Còn Mật giáo ví như vạt áo, ông trưởng giả che đầu các con, đưa ra khỏi nhà lửa, không bị nóng bức, không mất công nhiều, toàn nhờ sức cha các con thoát nạn. Nay lại thêm một ví dụ : Ông kỹ sư tự chế tạo ra đèn điện, tha hồ sử dụng ánh sáng. Ông lại chế ra nút bấm, khiến người khác không cần vất vả học hành, chỉ việc bấm nút liền có đèn sáng, thọ dụng tha hồ như ông không khác. Cũng thế, đức Phật nói thần chú. Chúng ta trì chú cũng đi đến kết quả như Phật không khác. Nhưng cần để ý : bấm nút mà đèn cháy được là nhờ bóng đèn, dây và sức điện đều đúng pháp. Trì chú thần lực cũng vậy, ba nghiệp phải đúng pháp mới linh nghiệm.
Khi trì chú tưởng vòng tròn tâm nguyệt từ chữ Tông màu trắng phóng ra hào quang sáng lớn, khắp chiếu chúng hữu tình. Ánh sáng tới thân sáu đạo chúng sanh thì giới ba la mật của chư Phật liền viên mãn. Trong một thời này làm chân Phật tử.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Wednesday, January 11, 2012
LE HANG THUAN
NGHI THỨC CẦU AN - LỄ THÀNH HÔN
LỜI DẶN
Trước khi cử hành nghi thức Cầu an Lễ thành hôn, hai họ có mặt tại chùa sắp hai hàng nam giới đứng bên trái, nữ giới bên phải (từ trong chánh điện nhìn ra). Cô dâu chú rể đứng giữa. Dâu bên phía nữ, rể phía nam giới. Đốt đèn nhang, xông trầm rồi mới thỉnh Chư tăng và vị Chủ lễ. Đổ ba hồi chuông trống bát nhã khi vị chủ lễ niêm hương nơi bàn Tổ.
NGHI THỨC
I. CHỦ LỄ TỊNH TAM NGHIỆP
Trang nghiêm mật niệm:
Tịnh pháp giới chơn ngôn:
An lam tóa ha (21 lần, tưởng chữ... vào chén nước sái tịnh để trên bàn).
Tịnh tam nghiệp chơn ngôn:
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ đạt ma ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần).
II. NIỆM HƯƠNG
A.Nguyện Hương.
Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo đám mây hương
Ngát tỏa khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo tự tánh làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm bồ đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.
Đấng Pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loài
Quy y tròn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận.
B. Bạch Phật cầu nguyện
Ngưỡng bạch thập phương Chư Phật, Tôn pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo, chư long thiên hộ pháp, nhất thế thiện thần đồng thùy chứng giám:
Hôm nay, ngày... có hai thiện nam tín nữ tên... và... pháp danh (nếu có)... vâng lời cha mẹ hai bên, long trọng cử hành lễ thành hôn tại...
Hai đệ tử xin cần cầu đảnh lễ trước ngôi Tam Bảo, ngưỡng xin từ bi gia hộ cho hai đệ tử bồ đề tâm kiên cố, phước huệ trang nghiêm, vạn sự kiết tường, trăm năm hảo hợp, đời đời kiếp kiếp nguyện kết thành bồ đề quyến thuộc trong ánh đạo Từ bi, hộ trì chánh pháp thường tại thế gian lợi lạc hữu tình (cắm hương vào lư).
III. LỄ PHẬT
Xướng:
Quy mạng thập phương điều ngự sư
Diễn dương thanh tịnh vi diệu pháp
Tam thừa tứ quả giải thoát tăng
Nguyện tứ từ bi ai nhiếp thọ.
Chí tâm đảnh lễ nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo (1 lạy).
Xướng:
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật
Thập phương thế giới diệc vô tỷ
Thế gian sở hữu ngã tận kiến
Nhất thế vô hữu như Phật giả
Chí tâm đảnh lễ nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Linh sơn hội thượng Phật, Bồ tát (1 lạy).
Xướng:
Phật thân thanh tịnh tợ lưu ly
Phật diện do như mãn nguyệt huy
Phật tại thế gian thường cứu khổ
Phật tâm vô xứ bất từ bi.
Chí tâm đảnh lễ nam mô Đông phương giáo chủ Dược sư lưu ly Quang vương Phật, Tây phương giáo chủ A Di Đà Phật, biến pháp giới thanh tịnh đại hải chúng Bồ tát (1 lạy).
IV. TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT
Chủ lễ đọc văn sái tịnh Khai chuông mõ Tán hương... Tiếp tán: Quán âm bồ tát diệu nan thù... Chủ lễ bưng chén nước đọc:
Phù thử thủy giả bát công đức thủy tự thiên chơn, tiên tẩy chúng sanh nghiệp cấu trần, lưu nhập tỳ lô hoa tạng giới, cá trung vô xứ bất siêu luân, thủy bất tẩy thủy, diệu cực pháp thân, trần bất nhiễm trần, phản tác tự kỷ, quyên trừ nội ngoại, đảng địch đàn tràng sái khô mộc nhi tác dương xuân, khiết uế bang nhi thành tịnh độ, sở vị đạo: nội ngoại trung gian vô trược uế, thánh phàm u hiển tổng thanh lương.
Bồ tát liễu đầu cam lồ thủy
Năng linh nhất đích biến thập phương
Tinh chuyên cấu uế tận quyên trừ
Linh thử đàn tràng tất thanh tịnh.
Giáo hữu mật ngôn cẩn đương trì tụng. Tụng chú Đại Bi.
Lưu ý: Khi làm lễ sái tịnh, vị chủ lễ chỉ dùng một bông hoa nhỏ chấm vào chén nước rồi điểm ngay trên đỉnh đầu của hai người, không nên rải nước nhiều như các nghi thức khác. Trong lúc sái tịnh, vị chủ lễ thầm niệm "án lam tóa ha" ba lần, chấm nước ba lần.
Tụng:
Đại từ đại bi mẫn chúng sanh
Đại hỷ đại xả tế hàm thức
Tướng hảo quang minh dĩ tự nghiêm
Chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ.
Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo.
Đọc lời cầu nguyện (Dâu rể đều quì, chú rể đọc trước lời cầu nguyện tự viết lấy).
Lời khuyên khi trao nhẫn
(Bảo hai trẻ quì, vị chủ lễ đến trước mặt tay cầm nhẫn nói lời khuyên)
Hôm nay là ngày thành hôn của hai con, ngày kỷ niệm trọng đại trong đời. Vì vậy nên về mặt tâm linh mới có phần nghi lễ trang nhiêm này. Thầy đã thay mặt ngôi Tăng Bảo ngưỡng bạch lên mười phương chư Phật, cầu thùy từ chúng minh gia hộ cho hai con được an vui hạnh phúc và vạn sự kiết tường như ý. Sau đây, Thầy có đôi lời khuyên nhủ: Kể từ hôm nay các con không còn ỷ lại vào mẹ cha mà các con đã thực sự nhận lãnh trách nhiệm của tuổi trưởng thành đối với bản thân, gia đình và xã hội.
a/ Đối với bản thân. Nói về tam quy.
Nếu các con chưa quy y ngôi Tam Bảo, thì nên cần cầu quy y. Nếu đã quy y rồi, thì các con phải giữ tròn tam quy ngũ giới và phải luôn luôn nghe lời Phật dạy, giữ đúng là một Phật tử tại gia, học tu đúng chánh pháp hầu làm lợi ích cho mình và cho mọi người mọi loài chung quanh mình.
Hai con luôn luôn khắc sâu vào tâm trí hình ảnh của chư Phật, bởi vì Phật là đấng phước trí vẹn toàn.
Hai con phải luôn nhớ rõ những lời Phật dạy, vì lời dạy của chư Phật là nguồn chơn lý thậm thâm vi diệu.
Hai con phải luôn tuân cứ với sự khuyên dạy của chư tăng vì Chư Tăng là bậc thay mặt Phật tu hành tinh nghiêm thường trụ tại thế gian truyền trì chánh pháp, làm nhiêu ích cho chúng sanh.
(Giảng rộng thêm nếu có thì giờ)
Khi hai con đã hiểu sự lợi ích to lớn và ý nghĩa cao quý về Phật Pháp Tăng là ba ngôi báu nhất, thường còn ở thế gian này, các con đã hướng về quy ngưỡng rồi thì dầu gặp phải hoàn cảnh nào, trường hợp nào các con cũng không xa rời. Các con không quy ngưỡng theo trời thần ma quỉ, không tin theo ngoại đạo tà giáo, không tùy tùng bè bạn xấu ác. Được như vậy, các con chẳng những đời này đầy đủ phước đức mà vĩnh kiếp không còn sa đọa nơi ba đường dữ địa ngục ngạ Quỷvà súc sanh.
Về phần năm giới.
Phật dành riêng răn dạy cho hàng tại gia, hai con phải nhớ và làm theo:
Hai con không nên sát sanh, làm cho kẻ khác vì mình mà chết. Trái lại, luôn tôn trọng sự sống của người và muôn vật.
Không nên gian tham trộm cắp bất cứ vật quý báu hoặc nhỏ nhặt.
Không được phạm thuần phong mỹ tục, phá hoại hạnh phúc gia đình và tiết hạnh của người khác.
Phải giữ sự thành tín, không nói lời giối trá để thủ lợi về mình, gieo họa cho kẻ khác.
Không nên vì sự buồn vui vô lý mà phạm vào việc say sưa rượu chè.
Tuân giữ đúng tam quy ngũ giới là điều kiện tiên quyết của người con Phật tại gia, không thể thiếu được.
Kinh dạy: Bốn điều TIN không thể mất. Bốn điều này phải giữ thanh tịnh không gì lay chuyển nổi (Bốn điều tin là tin Phật, tin Pháp, tin Tăng và tin Chánh giới).
b/ Đối với gia đình. Trong kinh Thiện Sanh đức Phật dạy con người sống phải có mối tương quan giữa vợ và chồng.
Chồng đối với vợ có năm điều.
1. Lễ độ với vợ
2. Không xem thường vợ
3. Chung thủy với vợ
4. Trao quyền nội chính cho vợ
5. May sắm đầy đủ cho vợ.
Vợ đối với chồng cũng phải đủ năm điều.
1. Thay chồng quản lý nhà cửa ngăn nắp
2. Săn sóc giúp đỡ chồng
3. Trinh thuận với chồng
4. Giữ gìn gia sản chung
5. Siêng năng làm việc và thuận thảo với cha mẹ, thân bằng quyến thuộc hai bên.
Phần này hai con phải tìm học nơi kinh Thiện sanh, kinh Ưu bà tắc, và phải giữ đúng lời Phật chỉ dạy. Thực hành đúng phần này là gầy dựng được hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và làm nền tảng gầy dựng phước đức an vui cho con cháu.
c/ Đối với xã hội
Quan hệ vợ chồng, gia đình, thân quyến khắn khít, sẽ giúp cho liên quan xã hội mật thiết. Vì gia đình là phần tử của xã hội. Nếu mọi người đều tốt thì xã hội tốt. Và nếu xã hội tốt thì cảnh thiên đường niết bàn ở ngay chốn trần gian này. Chân lý nhân sinh vũ trụ là không có sự vật gì đơn độc mà tồn tại. Luôn có nhân duyên liên quan tương đối với nhau. Hai con phải có sự hiểu biết như thế để nhớ làm tròn phận sự đối với xã hội, chu toàn nghĩa vụ công dân đất nước và chung cùng trách nhiệm đời sống cũng như tình cảm với bà con chòm xóm láng giềng.
Ân Tam bảo, ân thầy bạn, ân cha mẹ, ân đất nước và chúng sanh là bốn ân người Phật tử phải làm tròn.
Trao nhẫn Vị chủ lễ cầm hai chiếc nhẫn khuyến nhủ:
Này hai con, tục lệ vào ngày lễ thành hôn có phần trao nhẫn để làm điều kết ước cùng nhau và cũng chính vật kết tước này nhắc nhở cho nhau ghi nhớ mãi mãi.
Chiếc nhẫn làm bằng vàng hình khoen vòng tròn đeo vào ngón tay. Vàng là một trong những vật quý của người đời, tượng trưng cho sự trong sạch không nhiễm ố, không thay đổi chất màu với thời gian. Vòng tròn tượng trưng cho sự tròn đầy trong quy luật gia đình. Tên của nó gọi là NHẪN nhắc nhớ người đeo phải nhẫn nhịn nhau. Kinh Pháp Hoa Phật dạy là có nhẫn nhục được thì mới nhu hòa. Kẻ nào nhẫn nhục nhu hòa là kẻ ấy đang mặc áo Như lai, hưởng đủ đầy công đức.
Trong đời sống hằng ngày, hai con không sao tránh khỏi ngang trái. Khi gặp hoàn cảnh nghịch ý, hai con đưa ngón tay nhìn vào chiếc nhẫn để rồi nhẫn nhịn hoặc nhẫn nhục. Được như thế hai con mới xây dựng và bảo vệ hạnh phúc cho nhau và cho mọi thành viên của đại gia đình mình.
Phật dạy: "Nhẫn là gốc của muôn hạnh lành. Trong các hạnh, nhẫn ở địa vị cao nhất". Thay mặt người thân hai con, Thầy trao đôi nhẫn làm vật kết ước này để tượng trưng dẫn dắt hai con luôn sống với hạnh nhẫn.
(LƯU Ý: Khi trao nhẫn, vị chủ lễ không trực tiếp đeo mà bảo chú rể cô dâu ngửa tay nhận và đeo cho nhau. Chờ đeo xong, tiếp tục khuyên nhủ)
Được nhận nhẫn, hai con luôn nhớ sống theo hạnh nhẫn nhục và khắc ghi ân sanh thành nuôi dạy của cha mẹ đôi bên, bởi người đã lam lũ hy sinh và trao trọn tình thương vô bờ bến cho hai con. Có đức tin vững chắc và hạnh nhẫn nhục kiên trì, bước đường tương lai của hai con chắc chắn sẽ hoàn toàn an vui hạnh phúc.
V. TỤNG TIÊU TAI, TỰ QUY, HỒI HƯỚNG
A. Tiêu tai cát tường thần chú: Nẳng mồ tam mãn đa một đà nẩm, a bát ra để hạ đa xá ta nẳng nẩm, đát điệt tha, án khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ ha.
B. Nguyện an lành:
Nguyện ngày an lành, đêm an lành,
Đêm ngày sáu thời thường an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện từ bi thường gia hộ.
Nam mô tiêu tai giáng kiết tường Bồ tát.
C. Tự quy:
Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh,
Thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (lạy).
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh,
Thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển (lạy).
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh,
Thống lý đại chúng, hết thảy không ngại (lạy).
D. Hồi hướng:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
GHI CHÚ: Sau lễ, đại diện hai họ nên đọc lời cảm tạ Tam Bảo, chư tăng, họ hàng thân hữu và nhắc nhớ củng cố khắc ghi ở hai trẻ. Lễ tạ ba lạy rồi lui ra.
LỜI DẶN
Trước khi cử hành nghi thức Cầu an Lễ thành hôn, hai họ có mặt tại chùa sắp hai hàng nam giới đứng bên trái, nữ giới bên phải (từ trong chánh điện nhìn ra). Cô dâu chú rể đứng giữa. Dâu bên phía nữ, rể phía nam giới. Đốt đèn nhang, xông trầm rồi mới thỉnh Chư tăng và vị Chủ lễ. Đổ ba hồi chuông trống bát nhã khi vị chủ lễ niêm hương nơi bàn Tổ.
NGHI THỨC
I. CHỦ LỄ TỊNH TAM NGHIỆP
Trang nghiêm mật niệm:
Tịnh pháp giới chơn ngôn:
An lam tóa ha (21 lần, tưởng chữ... vào chén nước sái tịnh để trên bàn).
Tịnh tam nghiệp chơn ngôn:
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ đạt ma ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần).
II. NIỆM HƯƠNG
A.Nguyện Hương.
Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo đám mây hương
Ngát tỏa khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo tự tánh làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm bồ đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.
Đấng Pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loài
Quy y tròn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận.
B. Bạch Phật cầu nguyện
Ngưỡng bạch thập phương Chư Phật, Tôn pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo, chư long thiên hộ pháp, nhất thế thiện thần đồng thùy chứng giám:
Hôm nay, ngày... có hai thiện nam tín nữ tên... và... pháp danh (nếu có)... vâng lời cha mẹ hai bên, long trọng cử hành lễ thành hôn tại...
Hai đệ tử xin cần cầu đảnh lễ trước ngôi Tam Bảo, ngưỡng xin từ bi gia hộ cho hai đệ tử bồ đề tâm kiên cố, phước huệ trang nghiêm, vạn sự kiết tường, trăm năm hảo hợp, đời đời kiếp kiếp nguyện kết thành bồ đề quyến thuộc trong ánh đạo Từ bi, hộ trì chánh pháp thường tại thế gian lợi lạc hữu tình (cắm hương vào lư).
III. LỄ PHẬT
Xướng:
Quy mạng thập phương điều ngự sư
Diễn dương thanh tịnh vi diệu pháp
Tam thừa tứ quả giải thoát tăng
Nguyện tứ từ bi ai nhiếp thọ.
Chí tâm đảnh lễ nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo (1 lạy).
Xướng:
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật
Thập phương thế giới diệc vô tỷ
Thế gian sở hữu ngã tận kiến
Nhất thế vô hữu như Phật giả
Chí tâm đảnh lễ nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Linh sơn hội thượng Phật, Bồ tát (1 lạy).
Xướng:
Phật thân thanh tịnh tợ lưu ly
Phật diện do như mãn nguyệt huy
Phật tại thế gian thường cứu khổ
Phật tâm vô xứ bất từ bi.
Chí tâm đảnh lễ nam mô Đông phương giáo chủ Dược sư lưu ly Quang vương Phật, Tây phương giáo chủ A Di Đà Phật, biến pháp giới thanh tịnh đại hải chúng Bồ tát (1 lạy).
IV. TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT
Chủ lễ đọc văn sái tịnh Khai chuông mõ Tán hương... Tiếp tán: Quán âm bồ tát diệu nan thù... Chủ lễ bưng chén nước đọc:
Phù thử thủy giả bát công đức thủy tự thiên chơn, tiên tẩy chúng sanh nghiệp cấu trần, lưu nhập tỳ lô hoa tạng giới, cá trung vô xứ bất siêu luân, thủy bất tẩy thủy, diệu cực pháp thân, trần bất nhiễm trần, phản tác tự kỷ, quyên trừ nội ngoại, đảng địch đàn tràng sái khô mộc nhi tác dương xuân, khiết uế bang nhi thành tịnh độ, sở vị đạo: nội ngoại trung gian vô trược uế, thánh phàm u hiển tổng thanh lương.
Bồ tát liễu đầu cam lồ thủy
Năng linh nhất đích biến thập phương
Tinh chuyên cấu uế tận quyên trừ
Linh thử đàn tràng tất thanh tịnh.
Giáo hữu mật ngôn cẩn đương trì tụng. Tụng chú Đại Bi.
Lưu ý: Khi làm lễ sái tịnh, vị chủ lễ chỉ dùng một bông hoa nhỏ chấm vào chén nước rồi điểm ngay trên đỉnh đầu của hai người, không nên rải nước nhiều như các nghi thức khác. Trong lúc sái tịnh, vị chủ lễ thầm niệm "án lam tóa ha" ba lần, chấm nước ba lần.
Tụng:
Đại từ đại bi mẫn chúng sanh
Đại hỷ đại xả tế hàm thức
Tướng hảo quang minh dĩ tự nghiêm
Chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ.
Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo.
Đọc lời cầu nguyện (Dâu rể đều quì, chú rể đọc trước lời cầu nguyện tự viết lấy).
Lời khuyên khi trao nhẫn
(Bảo hai trẻ quì, vị chủ lễ đến trước mặt tay cầm nhẫn nói lời khuyên)
Hôm nay là ngày thành hôn của hai con, ngày kỷ niệm trọng đại trong đời. Vì vậy nên về mặt tâm linh mới có phần nghi lễ trang nhiêm này. Thầy đã thay mặt ngôi Tăng Bảo ngưỡng bạch lên mười phương chư Phật, cầu thùy từ chúng minh gia hộ cho hai con được an vui hạnh phúc và vạn sự kiết tường như ý. Sau đây, Thầy có đôi lời khuyên nhủ: Kể từ hôm nay các con không còn ỷ lại vào mẹ cha mà các con đã thực sự nhận lãnh trách nhiệm của tuổi trưởng thành đối với bản thân, gia đình và xã hội.
a/ Đối với bản thân. Nói về tam quy.
Nếu các con chưa quy y ngôi Tam Bảo, thì nên cần cầu quy y. Nếu đã quy y rồi, thì các con phải giữ tròn tam quy ngũ giới và phải luôn luôn nghe lời Phật dạy, giữ đúng là một Phật tử tại gia, học tu đúng chánh pháp hầu làm lợi ích cho mình và cho mọi người mọi loài chung quanh mình.
Hai con luôn luôn khắc sâu vào tâm trí hình ảnh của chư Phật, bởi vì Phật là đấng phước trí vẹn toàn.
Hai con phải luôn nhớ rõ những lời Phật dạy, vì lời dạy của chư Phật là nguồn chơn lý thậm thâm vi diệu.
Hai con phải luôn tuân cứ với sự khuyên dạy của chư tăng vì Chư Tăng là bậc thay mặt Phật tu hành tinh nghiêm thường trụ tại thế gian truyền trì chánh pháp, làm nhiêu ích cho chúng sanh.
(Giảng rộng thêm nếu có thì giờ)
Khi hai con đã hiểu sự lợi ích to lớn và ý nghĩa cao quý về Phật Pháp Tăng là ba ngôi báu nhất, thường còn ở thế gian này, các con đã hướng về quy ngưỡng rồi thì dầu gặp phải hoàn cảnh nào, trường hợp nào các con cũng không xa rời. Các con không quy ngưỡng theo trời thần ma quỉ, không tin theo ngoại đạo tà giáo, không tùy tùng bè bạn xấu ác. Được như vậy, các con chẳng những đời này đầy đủ phước đức mà vĩnh kiếp không còn sa đọa nơi ba đường dữ địa ngục ngạ Quỷvà súc sanh.
Về phần năm giới.
Phật dành riêng răn dạy cho hàng tại gia, hai con phải nhớ và làm theo:
Hai con không nên sát sanh, làm cho kẻ khác vì mình mà chết. Trái lại, luôn tôn trọng sự sống của người và muôn vật.
Không nên gian tham trộm cắp bất cứ vật quý báu hoặc nhỏ nhặt.
Không được phạm thuần phong mỹ tục, phá hoại hạnh phúc gia đình và tiết hạnh của người khác.
Phải giữ sự thành tín, không nói lời giối trá để thủ lợi về mình, gieo họa cho kẻ khác.
Không nên vì sự buồn vui vô lý mà phạm vào việc say sưa rượu chè.
Tuân giữ đúng tam quy ngũ giới là điều kiện tiên quyết của người con Phật tại gia, không thể thiếu được.
Kinh dạy: Bốn điều TIN không thể mất. Bốn điều này phải giữ thanh tịnh không gì lay chuyển nổi (Bốn điều tin là tin Phật, tin Pháp, tin Tăng và tin Chánh giới).
b/ Đối với gia đình. Trong kinh Thiện Sanh đức Phật dạy con người sống phải có mối tương quan giữa vợ và chồng.
Chồng đối với vợ có năm điều.
1. Lễ độ với vợ
2. Không xem thường vợ
3. Chung thủy với vợ
4. Trao quyền nội chính cho vợ
5. May sắm đầy đủ cho vợ.
Vợ đối với chồng cũng phải đủ năm điều.
1. Thay chồng quản lý nhà cửa ngăn nắp
2. Săn sóc giúp đỡ chồng
3. Trinh thuận với chồng
4. Giữ gìn gia sản chung
5. Siêng năng làm việc và thuận thảo với cha mẹ, thân bằng quyến thuộc hai bên.
Phần này hai con phải tìm học nơi kinh Thiện sanh, kinh Ưu bà tắc, và phải giữ đúng lời Phật chỉ dạy. Thực hành đúng phần này là gầy dựng được hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và làm nền tảng gầy dựng phước đức an vui cho con cháu.
c/ Đối với xã hội
Quan hệ vợ chồng, gia đình, thân quyến khắn khít, sẽ giúp cho liên quan xã hội mật thiết. Vì gia đình là phần tử của xã hội. Nếu mọi người đều tốt thì xã hội tốt. Và nếu xã hội tốt thì cảnh thiên đường niết bàn ở ngay chốn trần gian này. Chân lý nhân sinh vũ trụ là không có sự vật gì đơn độc mà tồn tại. Luôn có nhân duyên liên quan tương đối với nhau. Hai con phải có sự hiểu biết như thế để nhớ làm tròn phận sự đối với xã hội, chu toàn nghĩa vụ công dân đất nước và chung cùng trách nhiệm đời sống cũng như tình cảm với bà con chòm xóm láng giềng.
Ân Tam bảo, ân thầy bạn, ân cha mẹ, ân đất nước và chúng sanh là bốn ân người Phật tử phải làm tròn.
Trao nhẫn Vị chủ lễ cầm hai chiếc nhẫn khuyến nhủ:
Này hai con, tục lệ vào ngày lễ thành hôn có phần trao nhẫn để làm điều kết ước cùng nhau và cũng chính vật kết tước này nhắc nhở cho nhau ghi nhớ mãi mãi.
Chiếc nhẫn làm bằng vàng hình khoen vòng tròn đeo vào ngón tay. Vàng là một trong những vật quý của người đời, tượng trưng cho sự trong sạch không nhiễm ố, không thay đổi chất màu với thời gian. Vòng tròn tượng trưng cho sự tròn đầy trong quy luật gia đình. Tên của nó gọi là NHẪN nhắc nhớ người đeo phải nhẫn nhịn nhau. Kinh Pháp Hoa Phật dạy là có nhẫn nhục được thì mới nhu hòa. Kẻ nào nhẫn nhục nhu hòa là kẻ ấy đang mặc áo Như lai, hưởng đủ đầy công đức.
Trong đời sống hằng ngày, hai con không sao tránh khỏi ngang trái. Khi gặp hoàn cảnh nghịch ý, hai con đưa ngón tay nhìn vào chiếc nhẫn để rồi nhẫn nhịn hoặc nhẫn nhục. Được như thế hai con mới xây dựng và bảo vệ hạnh phúc cho nhau và cho mọi thành viên của đại gia đình mình.
Phật dạy: "Nhẫn là gốc của muôn hạnh lành. Trong các hạnh, nhẫn ở địa vị cao nhất". Thay mặt người thân hai con, Thầy trao đôi nhẫn làm vật kết ước này để tượng trưng dẫn dắt hai con luôn sống với hạnh nhẫn.
(LƯU Ý: Khi trao nhẫn, vị chủ lễ không trực tiếp đeo mà bảo chú rể cô dâu ngửa tay nhận và đeo cho nhau. Chờ đeo xong, tiếp tục khuyên nhủ)
Được nhận nhẫn, hai con luôn nhớ sống theo hạnh nhẫn nhục và khắc ghi ân sanh thành nuôi dạy của cha mẹ đôi bên, bởi người đã lam lũ hy sinh và trao trọn tình thương vô bờ bến cho hai con. Có đức tin vững chắc và hạnh nhẫn nhục kiên trì, bước đường tương lai của hai con chắc chắn sẽ hoàn toàn an vui hạnh phúc.
V. TỤNG TIÊU TAI, TỰ QUY, HỒI HƯỚNG
A. Tiêu tai cát tường thần chú: Nẳng mồ tam mãn đa một đà nẩm, a bát ra để hạ đa xá ta nẳng nẩm, đát điệt tha, án khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ ha.
B. Nguyện an lành:
Nguyện ngày an lành, đêm an lành,
Đêm ngày sáu thời thường an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện từ bi thường gia hộ.
Nam mô tiêu tai giáng kiết tường Bồ tát.
C. Tự quy:
Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh,
Thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (lạy).
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh,
Thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển (lạy).
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh,
Thống lý đại chúng, hết thảy không ngại (lạy).
D. Hồi hướng:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
GHI CHÚ: Sau lễ, đại diện hai họ nên đọc lời cảm tạ Tam Bảo, chư tăng, họ hàng thân hữu và nhắc nhớ củng cố khắc ghi ở hai trẻ. Lễ tạ ba lạy rồi lui ra.
Tuesday, March 29, 2011
nghi cung co hon
NGHI THỨC CÚNG CÔ HỒN
Trai chủ tựu vị phần hương niệm hương
Ư kim….. niên …..ngoạt…..nhựt. Tư hữu việt Nam quốc ….tỉnh (tp ) ….huyện (quận) …
Gia cư phụng phật tu hương thiết cúng phúng kinh kỳ siêu(chung..)thất chi trai tuần độ hương linh sự. Chi ngoạt diện bàn soạn trai duyên hiến cúng thí thực cô hồn cầu âm siêu dương thới nghinh tường tập phước sự
(Thượng hương lễ tứ bái )
Dẩu người thập loại biết là đâu,
Hồn phách mơ màng trải mấy thu,
Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,
Những mồ vô chủ thấy mà đau.
Ngàn bộ bộ đế rị già rị da rị đát đa nga đa da (3lần)
TÁN : Kiết tường hội khải, cam lồ môn khai, Cô hồn phật tử giáng lâm lai .Văn pháp phó hương trai, vĩnh xuất luân hồi, u ám nhất thời khai
Nam mô vân lai tập bồ tát (3lần)
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh: Đức quan âm chánh ngự sơn lâm, ngàn du điện tiền, hỏa thân tiêu diện, khẩu túc toàn chơn, đầu đội tam sơn, khẩu hàm nhứt thiết, mắt lồ lộ đôi tròng xanh biết, mặt lam lam một tướng dị kỳ, phóng hỏa hào khắp chốn thiết vi, cầm cờ đỏ quỷ đều
hàng phục, mông sơn hạ vâng lời, lưỡng túc chốn trần tiền, thọ pháp tam tôn, hộ quốc hộ dân, hộ nhơn hộ vật, đưa ngưòi qua lại, giúp kẻ bán buôn, tứ thời triệu thỉnh, ủng hộ nhà trai chủ, qua lại khắp trung tôn tùy đế, hiệp toàn gia quyến, bình an khương thới.
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh:
Lại thỉnh kẻ hoàng vưong đế bá, triều đời xưa, trải quá biết bao, đền đài chín lớp mây cao, non sông muôn dặm chén vào một phen, thuyền chiến phút đổi dời vượng khí, xe loan còn rũ rĩ oan thinh, ôi thôi ! đổ quyên kêu trót tàn canh, máu hờn thường chảy trên cành đào nguyên, trước sau lương bá nhưng là, hồn hương xin chứng tiệc chay sẵn sàng .
Lại thỉnh kẻ lướt sông mặt trận, xuất gươm trường, mình mặc áo binh, cờ điều núp bóng thương sanh, trong choàng mũ bọc, đem mình ra chốn lộ gian, rụt nát kêu la, thịt rơi đầy chổ can qua, ôi thôi ! cát vàng thăm thẳm bóng ma, mồ sương trắng ai nào có biết, xưa nay mấy kẻ trung thần, bữa nay xin chứng cam lồ tiệt chay
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh:
Lại thỉnh kẻ sáu đường pháp giới, những cô hồn mười loại đâu đây, diện nhiên sở thống một tay, nơi kia bế lệ giống này trần sơ, xa nương cây cỏ bóng ma, đuờng tiến ly mỵ hòa vọng lượng giả danh, hồn phơ phách kẻ lênh đênh, thương vong rước khách tâm thành ngẫn ngơ. Bấy nhiêu triệu thỉnh những là, ai ai cũng chứng qua tiệc này ,
Lại thỉnh kẻ cháy thiêu trong lửa, cũng có người tự đốt lấy thân, cô hồn ơi! hởi cô hồn! nay hồn ẩn bóng dưới cây, hay hồn đi theo mây theo gió, hồn dật dờ từ đường xá ngã ba, hồn ơi! ôi trai gái trẻ già, đương ở trên đường trần, hãy lắng nghe triệu thỉnh, nơi biên thiên thiên vạn vạn cấp đẳng cô hồn, mau về đây thủ chấp trai nghi.
Lại thỉnh kẻ vấng vương kêu khóc, chốn dương trần không chổ gởi thân, thỉnh người biệt tử vô nhân, bờ sông gốc chợ như gần như xa, thỉnh người không mẹ không cha, cỏ xanh cậy xiết lá đa nhau cùng, quảy đơm hương khói lạnh lùng, mồ phần ngọn cỏ ai đành bỏ hoang, thương thay cho kẻ cơ hàn, một manh chiếu rách nằm ngay bên đường, trước thời tiếp khánh bốn phương, đến khi chết xuống biết nương nơi nào.
Lại thỉnh người bị hùm báo cọp tha, thi thể ấy còn đâu mà chôn cất, chốn dương trần hồn dật dờ nơi núi rừng, ẩn núp bóng cây, không mồ không mã không thây, không nơi nương tựa giữa đêm ngày khóc than. Hồn ơi! hồn hởi! Hai bên đường, sớm trưa bóng xế chiều sang tội tình.
Lại thỉnh người bị tai nạn giao thông, rũi ro xe cộ va tông chết liền, bể đầu đổ ruột nát xương, máu ra lai láng, hồn phiêu dật dờ. Lại thỉnh người giận vợ ngẫn ngơ, liều mình tự ải trên ngàn dưới sông, thỉnh người oan ức tìm chồng, tình duyên trắc trở đành lòng bỏ con thơ cha mẹ ngỡ ngàn, hồn phiêu phách lạc vong ngoài bụi cây, thỉnh người chết một thành hai, bụng mang dạ chữa ngắn thai trong người.
Thỉnh người chết cả gia đình, bị hầm trú ẩn, bị mìn bị bom, chết rồi thây thể ngỗn ngang, hồn theo khói lửa ngẫn ngơ giữa trời, thỉnh người chết bởi tại trời, bão to lụt lớn nước thời cuốn đi, hồn trông kêu khóc bi ai, theo dòng nước thác cuốn đi lạnh lùng, thỉnh người vì cắp tiền chất chứa, vì binh đao nên khói lửa ngất trời, cửa nhà tan nát tơi bời, tiền không nhà mất ai thời khóc oan, nào kẻ trai hiền gái hiếu, dấn thân ra tranh đấu ngoài chiến trường, giờ đây chốc đã tử thương, không ai cúng bái khói hương cho mình, nay có trai chủ lập đàn tràng bạc độ cho hương linh, trên nhờ Phật tổ chứng minh, dưới trong gia chủ tâm thành hiến dâng, hởi thập loại cô hồn, nghe chư Tăng triệu thỉnh thời về, dù nhiều dù ít chớ chê, lai lâm thọ hưởng lễ nghi đàn tiền, nay trai chủ tâm thành hiến cúng, ít nhang đăng, trà quả trai nghi, cùng là phẩm vật tinh vi, nén hương bát cháo bái quỳ kính dâng. Hởi thập loại cô hồn đẳng chúng, đã đến đây thời dưới trên ngồi đúng, bậc tôn ty áo trượng chớ sai, nương nhờ Phật tổ Như Lai, Quan Âm Địa Tạng hai Ngài độ sanh, nhành dương chi với nước tịnh bình, rưới tan khổ hạnh chơn linh độ trần, Phật Di Đà tiếp dẫn vãng sanh, về nơi cực lạc lạc ban vui vầy, về rồi lại đây cùng chung tu tiến một ngày cầu vãng sanh
Nam mô siêu lạc độ bồ tát
Cô hồn an tự tại bồ tát (3lần)
Sơ hiến trà: lễ nhị bái
Diễn linh văn bồ tát (3lần)
Tái hiến trà: lễ nhị bái.
Từng nghe đạo cả, kinh thuật lời quê cõi giang sơn thủy lục ê hề, nơi hồn phách tử vong ngao ngán, trên đến bực vương hầu khanh tướng, dưới đến người sĩ cổ nông công, nào kẻ tây, kẻ đông, nào kẻ nam, người nữ, hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngự, hoặc có kẻ sảy bước chốn xa trường, hoặc sa hầm sa mương, hoặc trúng thang trúng thuốc, đau ngang dây buộc, sản nạn huyết bồn, hoặc mắc bịnh ôn, hoặc sông búa sấm, phép nước giãm trão, trù ẻo vong thân, loài ấy nhiều nhiều ơi đã quá chừng lời ấy, muốn kể kể sao cho xiết, kìa nương dựa mã mồ đã mất biệt, nào từ đường nơi chổ có chi chi bơ vơ trên bãi dưới cây, lầm lạc đầu gành mé biển, khổ nhiều nổi gió mưa xao xuyến, biết mấy thu lạnh nắng đổi thay, chẳng bốn mùa nào kẻ lạc chay, vắng tám tiết không người đơm quẩy, rầu rầu rỉ rỉ cỏi u minh biết mấy xuân thu, mịt mịt mù mù đường xuất ly, mãi trông ngày tháng, hội vô giá nay đã vừa gặp, thoảng nương theo công bí mật (sáng, chiều, tối ) hôm nay, này hà sa phất tử là ai, nọ lại gặp lúc tiêu diêu nơi cõi tịnh. nọ lụy thế oan thân, đã mấy kẻ lại nhờ ơn giải thoát nợ trần, Cô hồn ơi! ngôi liên đài quanh quẩn bên thân, miền Tịnh độ chán chường trước mắt, ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức đã chứng vào trong bậc vô sanh, lòng hỏi lòng, lòng vốn hư danh, ấy cảm thấu ngôi Quan Âm Phật tổ
Nam mô Diệm nhiên vương bồ tát (3lần)
Mãnh hỏa diệm diệm chiếu thiết thành,
Thiết thành lý diện nhiệt cô hồn,
Cô hồn nhược yếu sanh tịnh độ,
Thính tụng Hoa Nghiêm bán kệ kinh:
Nhược nhơn dục liểu tri,
Tam thế nhứt thiết Phật,
Ưng quán pháp giới tánh,
Nhứt thiết duy tâm tạo.
PHÁ ÐỊA-NGỤC CHƠN NGÔN:
Án dà ra đế da ta bà ha. (3 lần)
PHỔ TRIỆU THỈNH CHƠN NGÔN:
Nam mô bộ bộ đế rị, dà rị đa rị đát đa nga đa da. (3 lần)
GIẢI OAN KIẾT CHƠN NGÔN:
Án tam đà ra dà đà ta bà ha. (3 lần)
Nam mô Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh. (3 lần)
Nam mô thường trụ thập phương Phật,
Nam mô thường trụ thập phương Pháp,
Nam mô thường trụ thập phương Tăng,
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ tát,
Nam mô Minh Vương Cứu khổ Ðịa Tạng Vương Bồ tát,
Nam mô khải giáo A Nan Ðà tôn giả.
(Bảy câu trên đây tụng 3 lần)
Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.
Quy y Phật lưỡng túc tôn,
Quy y Pháp ly dục tôn,
Quy y Tăng chúng trung tôn.
Quy y Phật cánh, quy y Pháp cánh, quy y Tăng cánh.
(Ba câu trên đây tụng 3 lần)
(Phật-tử)
Hữu tình sở tạo chư ác nghiệp,
(Cô hồn)
Giai do vô thỉ tham, sân, si,
Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,
(Phật tử)
Nhứt thiết Hữu tình giai sám hối.
(Cô hồn)
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
(Bốn câu trên đây tụng 3 lần)
Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ,
Tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn,
Tự tánh pháp môn thệ nguyện học,
Tự tánh Phật đạo thệ nguyện thành.
(Bốn câu trên đây tụng 3 lần)
DIỆT ÐỊNH NGHIỆP CHƠN NGÔN:
Án bát ra mạt lân đà nãnh ta bà ha. (3 lần)
DIỆT NGHIỆP CHƯỚNG CHƠN-NGÔN:
Án a lổ lặc kế ta bà ha. (3 lần)
KHAI YẾT-HẦU CHƠN-NGÔN:
Án bộ bộ đế rị, dà rị đa rị, đát đa nga đa da. (3 lần)
TAM MUỘI DA GIỚI CHƠN-NGÔN:
Án tam muội da tát đỏa phạm. (3 lần)
BIẾN THỰC CHƠN-NGÔN:
Nam-mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế, án tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần)
CAM-LỒ THỦY CHƠN-NGÔN:
Nam-mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát thiệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần)
NHỨT TỰ THỦY-LUAÂN CHƠN-NGÔN:
Án noan noan noan noan noan. (3 lần)
NHŨ-HÃI CHƠN-NGÔN:
Nam mô tam mãn đa mẫu đà nẩm án noan. (3 lần)
Nam mô Ða bảo Như Lai,
Nam mô Bảo thắng Như Lai,
Nam mô Diệu sắc thân Như Lai,
Nam mô Quảng bát thân Như Lai.
Nam mô Ly bố úy Như Lai,
Nam mô Cam lồ vương Như Lai.
Nam mô A Di Ðà Như Lai.
(Bảy câu trên đây tụng 3 lần)
(Tịnh pháp thực)
Thần chú gia trì Pháp thí thực
(Cam lồ thủy)
(Phật-tử)
Phổ thí hà sa chúng Hữu tình
(Cô hồn)
Nguyện giai bảo mãn xả xan tham,
Tốc thoát u-minh sanh Tịnh-độ,
Quy-y Tam-bảo phát Bồ-đề,
Cứu cánh đắc thành vô thượng đạo,
Công-đức vô-biên
(Phật-tử)
Tận vị lai nhứt thiết Hữu tình đồng pháp-thực.
(Cô hồn)
(Phật-tử)
Nhữ đẳng Hữu tình chúng,
(Cô hồn)
Ngã kim thí nhữ cúng,
Thử thực biến thập-phương.
(Phật-tử)
Nhứt thiết Hữu tình cộng,
(Cô hồn)
Nguyện dĩ thử công-đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
(Phật-tử)
Ngã đẳng dữ Hữu tình
(Cô hồn)
Giai cọng thành Phật-đạo.
THÍ VÔ-GIẢ THỰC CHƠN-NGÔN:
Án mục lực lăng ta bà ha. (3 lần)
PHỔ CÚNG-DƯỜNG CHƠN-NGÔN:
Án nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)
PHỤC NGUYỆN:
Thương những kẻ trung thần nghĩa sĩ, oan hồn trời đất có thương thay, theo ngọn cờ ngậm huyết đền ơn, bảo vệ tổ quốc giang sơn, bỏ cửa nhà cũng bỏ, thắm thoát xương đeo ngọn cỏ, phách vào dòng sông, xa anh em, cha mẹ cũng xa, bạn với cành dâu, cùng là bạn quê khi khao khác nắng mưa xao xuyến, nóng lửa lò trời đất có thương thay, trời làm màng, đất làm chiếu, khoảng bao trùng đục, tổ kiến xoi hang, chim kêu vượng hú véo vang, sao chẳng thấy ông thầy làm câu kinh bạc độ. Nam mô A di đà Phật.
Sống rúc ngúc trong vòng tạo hóa kẻ thì ham phú quý, người trọng công danh, thoát lỗi lồ giữa chốn chiến tranh, phách phiêu lưu siêu hồn lạc mộ. Nam mô A di đà Phật.
Có người uống thuốc độc, kẻ chết trên không, kẻ bị bom, người bị đạn, kẻ mang thủy nạn, người bị tam tai, có kẻ chết núi, người lại chết, có kẻ chết dưới suối, người chết dưới sông, kẻ chết Tây, chết Đông, chết Nam, chết Bắc. Bóng trăng vằng vặt, gió thổi hiu hiu, phách bóng hồn phiêu, nấm mồ vô chủ. Một ngọn hương, không biết phải nhờ ai, nhờ phép Phật bảo câu kinh bạc độ. Nam mô a di đà phật.
Tiêu diêu chơn thế giới,
Khoái lạc bảo liên trung,
Hiệp chưởng Thế Tôn tiền,
Như Lai chơn thọ ký.
Nhất triêu đăng bỉ ngạn, hiệp chưởng lễ kim dung.
Nam mô siêu lạc độ bồ tát. (3lần)
Chung hiến trà, lễ nhị bái
Vãng sanh quyết định chơn ngôn .
Nguyện sanh tây phương……
Lễ tạ tiển đưa ngũ phương thập loại cô hồn tứ bái
Thích Viên Hải biên soạn
CÚNG LINH
Trai chủ tựu vị giai quỳ phần hương niệm hương, thượng hương, chúng khổ viên
xướng :
Tam giới luân hồi chúng khổ viên,
Đa sanh phụ mẫu lịch thân tiền,
Thượng thừa tam bảo oan thần lực,
Siêu xuất ưu đồ vãng lạc bang.
Tán: bỉ thử chân linh thân triệu thỉnh hương linh văn triệu văn triệu nguyện lai lâm
- Chiên thân triệu thỉnh cung vọng lai lâm trai chủ thành tâm cẩn đương bái thỉnh
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
-Nhất tâm triệu thỉnh, kim ô tợ tiển ngọc thố như thoi, tưởng cốt chục dĩ phân ly đổ anh hùng nhi hà tại sơ nhiệt danh hương sơ thân triệu thỉnh, triệu thỉnh tiên linh ………… nhất vị (thần, chánh) hồn, lai dáo gia đường thính pháp văn kinh, thọ tài hưởng thực,siêu sanh Tịnh độ
- Duy nguyện thừa tam bảo lực trượng bí bật ngôn, thử (dạ, nhựt) kim thời lai thọ vô giá cam lồ pháp thực
(Hương hao thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
- Nhứt tâm triệu thỉnh, viễn quang sơn hữu sắc cận thính thủy vô thinh, xuân khứ hoa trường tại, nhơn lai điểu bất kinh, phục vì tiên linh (mổ tính)………nhất vị (chánh, thần) hồn, lai đáo gia đường, thính pháp văn kinh thọ tài hưởng thực siêu sanh tịnh độ
- Duy nguyện thừa tam bảo lực trượng bí mật ngôn thử (nhựt , dạ )…..kim thời lai thọ vô giá cam lồ pháp thực.
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
- Nhất tâm triệu thỉnh, khổ hải thao thao nghiệp tự chiêu, mê nhân bất tỉnh bán phân hào, kim sanh bất bã di đà niệm, uổng tại nhơn gian tẩu thứt tao, tam nhiệt danh hương, tam thân triệu thỉnh triệu thỉnh phụng vì tiên linh (mỗ, tánh)……nhức, vị (chánh, thần) hồn, lai đáo gia đình thính pháp văn kinh thọ tài hưởng thực siêu sanh Tịnh độ
- Duy nguyện thừa Tam bảo lực trượng bí mật ngôn thử(nhựt, dạ)kim thời quang lâm pháp hội.
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
- Sơ thỉnh tiên linh đăng an tọa, tái thỉnh tiên linh đăng an tọa, tam thỉnh tiên linh đồng hưởng thực, thọ thử hương hoa phổ cúng dường, tiên linh tựu tọa thỉnh kinh văn . (Diễn kinh văn bồ tát ma ha tát)
Ân đức sinh thành muôn vạn thuở
Công đức sinh thành triệu nghìn năm
Áo ấm muôn đời công nghĩa mẹ
Cơm no muôn kiếp khó đáp đền
………………còn tiếp…………
Trai chủ tựu vị phần hương niệm hương
Ư kim….. niên …..ngoạt…..nhựt. Tư hữu việt Nam quốc ….tỉnh (tp ) ….huyện (quận) …
Gia cư phụng phật tu hương thiết cúng phúng kinh kỳ siêu(chung..)thất chi trai tuần độ hương linh sự. Chi ngoạt diện bàn soạn trai duyên hiến cúng thí thực cô hồn cầu âm siêu dương thới nghinh tường tập phước sự
(Thượng hương lễ tứ bái )
Dẩu người thập loại biết là đâu,
Hồn phách mơ màng trải mấy thu,
Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,
Những mồ vô chủ thấy mà đau.
Ngàn bộ bộ đế rị già rị da rị đát đa nga đa da (3lần)
TÁN : Kiết tường hội khải, cam lồ môn khai, Cô hồn phật tử giáng lâm lai .Văn pháp phó hương trai, vĩnh xuất luân hồi, u ám nhất thời khai
Nam mô vân lai tập bồ tát (3lần)
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh: Đức quan âm chánh ngự sơn lâm, ngàn du điện tiền, hỏa thân tiêu diện, khẩu túc toàn chơn, đầu đội tam sơn, khẩu hàm nhứt thiết, mắt lồ lộ đôi tròng xanh biết, mặt lam lam một tướng dị kỳ, phóng hỏa hào khắp chốn thiết vi, cầm cờ đỏ quỷ đều
hàng phục, mông sơn hạ vâng lời, lưỡng túc chốn trần tiền, thọ pháp tam tôn, hộ quốc hộ dân, hộ nhơn hộ vật, đưa ngưòi qua lại, giúp kẻ bán buôn, tứ thời triệu thỉnh, ủng hộ nhà trai chủ, qua lại khắp trung tôn tùy đế, hiệp toàn gia quyến, bình an khương thới.
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh:
Lại thỉnh kẻ hoàng vưong đế bá, triều đời xưa, trải quá biết bao, đền đài chín lớp mây cao, non sông muôn dặm chén vào một phen, thuyền chiến phút đổi dời vượng khí, xe loan còn rũ rĩ oan thinh, ôi thôi ! đổ quyên kêu trót tàn canh, máu hờn thường chảy trên cành đào nguyên, trước sau lương bá nhưng là, hồn hương xin chứng tiệc chay sẵn sàng .
Lại thỉnh kẻ lướt sông mặt trận, xuất gươm trường, mình mặc áo binh, cờ điều núp bóng thương sanh, trong choàng mũ bọc, đem mình ra chốn lộ gian, rụt nát kêu la, thịt rơi đầy chổ can qua, ôi thôi ! cát vàng thăm thẳm bóng ma, mồ sương trắng ai nào có biết, xưa nay mấy kẻ trung thần, bữa nay xin chứng cam lồ tiệt chay
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh:
Lại thỉnh kẻ sáu đường pháp giới, những cô hồn mười loại đâu đây, diện nhiên sở thống một tay, nơi kia bế lệ giống này trần sơ, xa nương cây cỏ bóng ma, đuờng tiến ly mỵ hòa vọng lượng giả danh, hồn phơ phách kẻ lênh đênh, thương vong rước khách tâm thành ngẫn ngơ. Bấy nhiêu triệu thỉnh những là, ai ai cũng chứng qua tiệc này ,
Lại thỉnh kẻ cháy thiêu trong lửa, cũng có người tự đốt lấy thân, cô hồn ơi! hởi cô hồn! nay hồn ẩn bóng dưới cây, hay hồn đi theo mây theo gió, hồn dật dờ từ đường xá ngã ba, hồn ơi! ôi trai gái trẻ già, đương ở trên đường trần, hãy lắng nghe triệu thỉnh, nơi biên thiên thiên vạn vạn cấp đẳng cô hồn, mau về đây thủ chấp trai nghi.
Lại thỉnh kẻ vấng vương kêu khóc, chốn dương trần không chổ gởi thân, thỉnh người biệt tử vô nhân, bờ sông gốc chợ như gần như xa, thỉnh người không mẹ không cha, cỏ xanh cậy xiết lá đa nhau cùng, quảy đơm hương khói lạnh lùng, mồ phần ngọn cỏ ai đành bỏ hoang, thương thay cho kẻ cơ hàn, một manh chiếu rách nằm ngay bên đường, trước thời tiếp khánh bốn phương, đến khi chết xuống biết nương nơi nào.
Lại thỉnh người bị hùm báo cọp tha, thi thể ấy còn đâu mà chôn cất, chốn dương trần hồn dật dờ nơi núi rừng, ẩn núp bóng cây, không mồ không mã không thây, không nơi nương tựa giữa đêm ngày khóc than. Hồn ơi! hồn hởi! Hai bên đường, sớm trưa bóng xế chiều sang tội tình.
Lại thỉnh người bị tai nạn giao thông, rũi ro xe cộ va tông chết liền, bể đầu đổ ruột nát xương, máu ra lai láng, hồn phiêu dật dờ. Lại thỉnh người giận vợ ngẫn ngơ, liều mình tự ải trên ngàn dưới sông, thỉnh người oan ức tìm chồng, tình duyên trắc trở đành lòng bỏ con thơ cha mẹ ngỡ ngàn, hồn phiêu phách lạc vong ngoài bụi cây, thỉnh người chết một thành hai, bụng mang dạ chữa ngắn thai trong người.
Thỉnh người chết cả gia đình, bị hầm trú ẩn, bị mìn bị bom, chết rồi thây thể ngỗn ngang, hồn theo khói lửa ngẫn ngơ giữa trời, thỉnh người chết bởi tại trời, bão to lụt lớn nước thời cuốn đi, hồn trông kêu khóc bi ai, theo dòng nước thác cuốn đi lạnh lùng, thỉnh người vì cắp tiền chất chứa, vì binh đao nên khói lửa ngất trời, cửa nhà tan nát tơi bời, tiền không nhà mất ai thời khóc oan, nào kẻ trai hiền gái hiếu, dấn thân ra tranh đấu ngoài chiến trường, giờ đây chốc đã tử thương, không ai cúng bái khói hương cho mình, nay có trai chủ lập đàn tràng bạc độ cho hương linh, trên nhờ Phật tổ chứng minh, dưới trong gia chủ tâm thành hiến dâng, hởi thập loại cô hồn, nghe chư Tăng triệu thỉnh thời về, dù nhiều dù ít chớ chê, lai lâm thọ hưởng lễ nghi đàn tiền, nay trai chủ tâm thành hiến cúng, ít nhang đăng, trà quả trai nghi, cùng là phẩm vật tinh vi, nén hương bát cháo bái quỳ kính dâng. Hởi thập loại cô hồn đẳng chúng, đã đến đây thời dưới trên ngồi đúng, bậc tôn ty áo trượng chớ sai, nương nhờ Phật tổ Như Lai, Quan Âm Địa Tạng hai Ngài độ sanh, nhành dương chi với nước tịnh bình, rưới tan khổ hạnh chơn linh độ trần, Phật Di Đà tiếp dẫn vãng sanh, về nơi cực lạc lạc ban vui vầy, về rồi lại đây cùng chung tu tiến một ngày cầu vãng sanh
Nam mô siêu lạc độ bồ tát
Cô hồn an tự tại bồ tát (3lần)
Sơ hiến trà: lễ nhị bái
Diễn linh văn bồ tát (3lần)
Tái hiến trà: lễ nhị bái.
Từng nghe đạo cả, kinh thuật lời quê cõi giang sơn thủy lục ê hề, nơi hồn phách tử vong ngao ngán, trên đến bực vương hầu khanh tướng, dưới đến người sĩ cổ nông công, nào kẻ tây, kẻ đông, nào kẻ nam, người nữ, hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngự, hoặc có kẻ sảy bước chốn xa trường, hoặc sa hầm sa mương, hoặc trúng thang trúng thuốc, đau ngang dây buộc, sản nạn huyết bồn, hoặc mắc bịnh ôn, hoặc sông búa sấm, phép nước giãm trão, trù ẻo vong thân, loài ấy nhiều nhiều ơi đã quá chừng lời ấy, muốn kể kể sao cho xiết, kìa nương dựa mã mồ đã mất biệt, nào từ đường nơi chổ có chi chi bơ vơ trên bãi dưới cây, lầm lạc đầu gành mé biển, khổ nhiều nổi gió mưa xao xuyến, biết mấy thu lạnh nắng đổi thay, chẳng bốn mùa nào kẻ lạc chay, vắng tám tiết không người đơm quẩy, rầu rầu rỉ rỉ cỏi u minh biết mấy xuân thu, mịt mịt mù mù đường xuất ly, mãi trông ngày tháng, hội vô giá nay đã vừa gặp, thoảng nương theo công bí mật (sáng, chiều, tối ) hôm nay, này hà sa phất tử là ai, nọ lại gặp lúc tiêu diêu nơi cõi tịnh. nọ lụy thế oan thân, đã mấy kẻ lại nhờ ơn giải thoát nợ trần, Cô hồn ơi! ngôi liên đài quanh quẩn bên thân, miền Tịnh độ chán chường trước mắt, ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức đã chứng vào trong bậc vô sanh, lòng hỏi lòng, lòng vốn hư danh, ấy cảm thấu ngôi Quan Âm Phật tổ
Nam mô Diệm nhiên vương bồ tát (3lần)
Mãnh hỏa diệm diệm chiếu thiết thành,
Thiết thành lý diện nhiệt cô hồn,
Cô hồn nhược yếu sanh tịnh độ,
Thính tụng Hoa Nghiêm bán kệ kinh:
Nhược nhơn dục liểu tri,
Tam thế nhứt thiết Phật,
Ưng quán pháp giới tánh,
Nhứt thiết duy tâm tạo.
PHÁ ÐỊA-NGỤC CHƠN NGÔN:
Án dà ra đế da ta bà ha. (3 lần)
PHỔ TRIỆU THỈNH CHƠN NGÔN:
Nam mô bộ bộ đế rị, dà rị đa rị đát đa nga đa da. (3 lần)
GIẢI OAN KIẾT CHƠN NGÔN:
Án tam đà ra dà đà ta bà ha. (3 lần)
Nam mô Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh. (3 lần)
Nam mô thường trụ thập phương Phật,
Nam mô thường trụ thập phương Pháp,
Nam mô thường trụ thập phương Tăng,
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ tát,
Nam mô Minh Vương Cứu khổ Ðịa Tạng Vương Bồ tát,
Nam mô khải giáo A Nan Ðà tôn giả.
(Bảy câu trên đây tụng 3 lần)
Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.
Quy y Phật lưỡng túc tôn,
Quy y Pháp ly dục tôn,
Quy y Tăng chúng trung tôn.
Quy y Phật cánh, quy y Pháp cánh, quy y Tăng cánh.
(Ba câu trên đây tụng 3 lần)
(Phật-tử)
Hữu tình sở tạo chư ác nghiệp,
(Cô hồn)
Giai do vô thỉ tham, sân, si,
Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,
(Phật tử)
Nhứt thiết Hữu tình giai sám hối.
(Cô hồn)
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
(Bốn câu trên đây tụng 3 lần)
Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ,
Tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn,
Tự tánh pháp môn thệ nguyện học,
Tự tánh Phật đạo thệ nguyện thành.
(Bốn câu trên đây tụng 3 lần)
DIỆT ÐỊNH NGHIỆP CHƠN NGÔN:
Án bát ra mạt lân đà nãnh ta bà ha. (3 lần)
DIỆT NGHIỆP CHƯỚNG CHƠN-NGÔN:
Án a lổ lặc kế ta bà ha. (3 lần)
KHAI YẾT-HẦU CHƠN-NGÔN:
Án bộ bộ đế rị, dà rị đa rị, đát đa nga đa da. (3 lần)
TAM MUỘI DA GIỚI CHƠN-NGÔN:
Án tam muội da tát đỏa phạm. (3 lần)
BIẾN THỰC CHƠN-NGÔN:
Nam-mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế, án tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần)
CAM-LỒ THỦY CHƠN-NGÔN:
Nam-mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát thiệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần)
NHỨT TỰ THỦY-LUAÂN CHƠN-NGÔN:
Án noan noan noan noan noan. (3 lần)
NHŨ-HÃI CHƠN-NGÔN:
Nam mô tam mãn đa mẫu đà nẩm án noan. (3 lần)
Nam mô Ða bảo Như Lai,
Nam mô Bảo thắng Như Lai,
Nam mô Diệu sắc thân Như Lai,
Nam mô Quảng bát thân Như Lai.
Nam mô Ly bố úy Như Lai,
Nam mô Cam lồ vương Như Lai.
Nam mô A Di Ðà Như Lai.
(Bảy câu trên đây tụng 3 lần)
(Tịnh pháp thực)
Thần chú gia trì Pháp thí thực
(Cam lồ thủy)
(Phật-tử)
Phổ thí hà sa chúng Hữu tình
(Cô hồn)
Nguyện giai bảo mãn xả xan tham,
Tốc thoát u-minh sanh Tịnh-độ,
Quy-y Tam-bảo phát Bồ-đề,
Cứu cánh đắc thành vô thượng đạo,
Công-đức vô-biên
(Phật-tử)
Tận vị lai nhứt thiết Hữu tình đồng pháp-thực.
(Cô hồn)
(Phật-tử)
Nhữ đẳng Hữu tình chúng,
(Cô hồn)
Ngã kim thí nhữ cúng,
Thử thực biến thập-phương.
(Phật-tử)
Nhứt thiết Hữu tình cộng,
(Cô hồn)
Nguyện dĩ thử công-đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
(Phật-tử)
Ngã đẳng dữ Hữu tình
(Cô hồn)
Giai cọng thành Phật-đạo.
THÍ VÔ-GIẢ THỰC CHƠN-NGÔN:
Án mục lực lăng ta bà ha. (3 lần)
PHỔ CÚNG-DƯỜNG CHƠN-NGÔN:
Án nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)
PHỤC NGUYỆN:
Thương những kẻ trung thần nghĩa sĩ, oan hồn trời đất có thương thay, theo ngọn cờ ngậm huyết đền ơn, bảo vệ tổ quốc giang sơn, bỏ cửa nhà cũng bỏ, thắm thoát xương đeo ngọn cỏ, phách vào dòng sông, xa anh em, cha mẹ cũng xa, bạn với cành dâu, cùng là bạn quê khi khao khác nắng mưa xao xuyến, nóng lửa lò trời đất có thương thay, trời làm màng, đất làm chiếu, khoảng bao trùng đục, tổ kiến xoi hang, chim kêu vượng hú véo vang, sao chẳng thấy ông thầy làm câu kinh bạc độ. Nam mô A di đà Phật.
Sống rúc ngúc trong vòng tạo hóa kẻ thì ham phú quý, người trọng công danh, thoát lỗi lồ giữa chốn chiến tranh, phách phiêu lưu siêu hồn lạc mộ. Nam mô A di đà Phật.
Có người uống thuốc độc, kẻ chết trên không, kẻ bị bom, người bị đạn, kẻ mang thủy nạn, người bị tam tai, có kẻ chết núi, người lại chết, có kẻ chết dưới suối, người chết dưới sông, kẻ chết Tây, chết Đông, chết Nam, chết Bắc. Bóng trăng vằng vặt, gió thổi hiu hiu, phách bóng hồn phiêu, nấm mồ vô chủ. Một ngọn hương, không biết phải nhờ ai, nhờ phép Phật bảo câu kinh bạc độ. Nam mô a di đà phật.
Tiêu diêu chơn thế giới,
Khoái lạc bảo liên trung,
Hiệp chưởng Thế Tôn tiền,
Như Lai chơn thọ ký.
Nhất triêu đăng bỉ ngạn, hiệp chưởng lễ kim dung.
Nam mô siêu lạc độ bồ tát. (3lần)
Chung hiến trà, lễ nhị bái
Vãng sanh quyết định chơn ngôn .
Nguyện sanh tây phương……
Lễ tạ tiển đưa ngũ phương thập loại cô hồn tứ bái
Thích Viên Hải biên soạn
CÚNG LINH
Trai chủ tựu vị giai quỳ phần hương niệm hương, thượng hương, chúng khổ viên
xướng :
Tam giới luân hồi chúng khổ viên,
Đa sanh phụ mẫu lịch thân tiền,
Thượng thừa tam bảo oan thần lực,
Siêu xuất ưu đồ vãng lạc bang.
Tán: bỉ thử chân linh thân triệu thỉnh hương linh văn triệu văn triệu nguyện lai lâm
- Chiên thân triệu thỉnh cung vọng lai lâm trai chủ thành tâm cẩn đương bái thỉnh
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
-Nhất tâm triệu thỉnh, kim ô tợ tiển ngọc thố như thoi, tưởng cốt chục dĩ phân ly đổ anh hùng nhi hà tại sơ nhiệt danh hương sơ thân triệu thỉnh, triệu thỉnh tiên linh ………… nhất vị (thần, chánh) hồn, lai dáo gia đường thính pháp văn kinh, thọ tài hưởng thực,siêu sanh Tịnh độ
- Duy nguyện thừa tam bảo lực trượng bí bật ngôn, thử (dạ, nhựt) kim thời lai thọ vô giá cam lồ pháp thực
(Hương hao thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
- Nhứt tâm triệu thỉnh, viễn quang sơn hữu sắc cận thính thủy vô thinh, xuân khứ hoa trường tại, nhơn lai điểu bất kinh, phục vì tiên linh (mổ tính)………nhất vị (chánh, thần) hồn, lai đáo gia đường, thính pháp văn kinh thọ tài hưởng thực siêu sanh tịnh độ
- Duy nguyện thừa tam bảo lực trượng bí mật ngôn thử (nhựt , dạ )…..kim thời lai thọ vô giá cam lồ pháp thực.
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
- Nhất tâm triệu thỉnh, khổ hải thao thao nghiệp tự chiêu, mê nhân bất tỉnh bán phân hào, kim sanh bất bã di đà niệm, uổng tại nhơn gian tẩu thứt tao, tam nhiệt danh hương, tam thân triệu thỉnh triệu thỉnh phụng vì tiên linh (mỗ, tánh)……nhức, vị (chánh, thần) hồn, lai đáo gia đình thính pháp văn kinh thọ tài hưởng thực siêu sanh Tịnh độ
- Duy nguyện thừa Tam bảo lực trượng bí mật ngôn thử(nhựt, dạ)kim thời quang lâm pháp hội.
(Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh) (3lần)
- Sơ thỉnh tiên linh đăng an tọa, tái thỉnh tiên linh đăng an tọa, tam thỉnh tiên linh đồng hưởng thực, thọ thử hương hoa phổ cúng dường, tiên linh tựu tọa thỉnh kinh văn . (Diễn kinh văn bồ tát ma ha tát)
Ân đức sinh thành muôn vạn thuở
Công đức sinh thành triệu nghìn năm
Áo ấm muôn đời công nghĩa mẹ
Cơm no muôn kiếp khó đáp đền
………………còn tiếp…………
Wednesday, February 9, 2011
Tieu Su Hoa Thuong Thien Duyen, TP Tam Ky, Tinh Quang Nam, Viet Nam
Hòa thượng Thích Thiện Duyên, thế danh Võ Đình Như, sinh ngày 20/10/1926 tại thôn Hội Vân, xã Cát Hiệp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ngài là con thứ 3 của cụ ông Võ Toản pháp danh Nhựt Hoàn và cụ Bà Đặng Thị Chức pháp danh Diệu Phát, cả gia đình đều là những Phật tử thuần thành.
Thuở nhở, Ngài được bà nội dẫn đến chùa trong làng lễ Phật tụng kinh vào Rằm, mồng một. Sau đó, với túc duyên nhiều đời nên Ngài gặp Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Hòa từ chùa Trà Can, Tháp Chàm - Phan Rang về tổ chức lễ truyền Tam Quy Ngũ giới tại chùa Tịnh An, Phù Cát, Bình Định. Ngài thọ Tam quy Ngũ giới trong dịp này.
Năm 15 tuổi, cơ duyên thuần tục, lòng cảm mến Phật Pháp dâng cao, Ngài dõng mãnh phát tâm xuất gia và được sự chấp thuận của song thân, năm 1941 Ngài rời gia đình đến đầu sư nơi Hòa thượng Giáo thọ Thích Quảng Đức chùa Tịnh An, mong được suốt đời học tập và hầu hạ để đền đáp công ơn khai thị. Nào ngờ đâu, chỉ mới 5 năm Hòa thượng giáo thọ chích lý Tây quy, cao đăng thượng phẩm. “Sự tử như sự sinh”, Ngài ở lại Tịnh An 4 năm để thù ân báo đáp.
Thời gian thấm thóat trôi qua, lúc này ngài đã 24 tuổi, ngẫm đời vô thường, xót mình giáo pháp chưa thấm, thầy hướng dẫn lại không, do đó Ngài quyết định khăn gói lên đường đến xã An Nhơn, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định cầu thầy làm Hòa thượng hầu được chỉ dạy chỗ đến đi. Được biết, Đại lão Hòa thượng Thượng Giác hạ Tánh, viện chủ tổ đình Hưng Long, trong là một trong những ngọn Hải Đăng của tỉnh thời bấy giờ, Ngài bằng cầu thọ Pháp, xin làm đệ tử và được Đại Lão Hòa thượng Hưng Long đổi pháp danh là Quảng Thành. Sau một năm hầu thầy, học đạo, Ngài được bổn sư cho thọ giới Sadi với pháp hiệu là Thiện Duyên.
Ảnh hưởng phong trào chấn hưng Phật giáo của Thái Hư Đại Sư, lúc này khí thế học Phật bừng dậy từ Bắc chí Nam, các Phật Học Viện mở ra cùng khắp. Năm 1953 Phật Học Đường Nha Trang thành lập, Ngài được Hòa thượng cho vào học tập tại đây. Năm 1956 Phật Học Đường Báo Quốc - Huế chuyển vào Nha Trang và nhập cùng với Phật Học Đường Nha Trang thành Phật Học Viện Trung Phần đặt tại chùa Hải Đức, do cố Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Giám viện và quý Hòa thượng giáo thọ như Thiện Siêu, Huyền Quang, Thiện Minh...chương trình học lúc bấy giờ là chương trình cao đẳng tương đương với chương trình Học Viện Phật giáo Việt Nam bây giờ. Ngài là Tăng sinh khóa này, bạn đồng học của Ngài nay còn lại như Hòa thượng Thích Thiện Bình (Nha Trang), Hòa thượng Thích Đức Chơn, Hòa thượng Thích Thiện Hạnh (Huế),...
Năm 1957, Ngài được bổn sư cho thọ đại giới và ban cho Pháp hiệu là Quán Ngôn. Đại giới đàn này, do Hòa thượng Giám viện tổ chức và Hòa thượng Thích Giác Nhiên (đệ nhị Tăng thống GHPGVNTN) làm Đường đầu Hòa thượng.
Là một trong những Tăng sinh sáng giá của Phật Học Viện Hải Đức, Ngài được Giáo hội Phật giáo Trung Phần bổ nhiệm làm giảng sư trong giảng sư đoàn miền Trung. Trong thời gian này, Ngài đã đi giảng thuyết giáo lý khắp các tỉnh thuộc Trung phần như Nha Trang, Bảo Lộc (Lâm Đồng), Phú Yên, Quảng Ngãi và nhất là Quảng Nam. Tại Quảng Nam, Ngài đã không quản gian lao, vượt thác trèo đèo đến tận các vùng trung du hẻo lánh như Hiệp Đức, Hậu Đức, Trà My, Tiên Phước, Nông Sơn, Quế Sơn, Đại Lộc,...cho đến các vùng đồng bằng ven biển như Tam Hải (Núi Thành), Duy Hải (Duy Xuyên), Bình Minh (Thăng Bình),... trong thời gian hoằng pháp tại Quảng Nam (1958-1969) Ngài thường ở tại các trú xứ Pháp Bảo (Hội An), Hòa An (Tam Kỳ),...
Năm 1962, tỉnh Quảng Nam được chia thành 2 đơn vị là tỉnh Quảng Tín và Quảng Nam. Cuối năm 1962, Giáo hội Phật giáo tỉnh Quảng Tín được thành lập. Hội Đồng Trị Sự Giáo hội Phật giáo Trung phần bổ nhiệm Ngài làm Hội trưởng, trụ sở tạm thời đặt tại Hội quán chùa Hoà An do cố Hoà thượng Thích Từ Ý làm trụ trì.
Năm 1963, pháp nạn bùng nổ, Ngài đã cùng Chư Tăng Ni trong tỉnh chung lưng đấu cật bảo vệ đạo Pháp, đem lại an bình cho Phật giáo địa phương.
Ngày 01/11/1963, chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, Pháp nạn tạm qua, sự sinh hoạt tu học của Tăng Ni trong tỉnh dần dần đi vào ổn định. Xét thấy Giáo hội tỉnh nhà chưa có một cơ sở Tỉnh hội để làm việc, Ngài đã xin mãnh đất tại thôn Mỹ Thạch, xã Kỳ Hương (nay là phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ) để làm trụ sở Tỉnh hội. Ngôi chùa này Tỉnh hội này, do Ngài chủ trì xây dựng khởi công vào ngày 17/11/1963 do Hoà thượng Thích Đôn Hậu chứng minh lễ đặt đá, đến năm 1965 công tác xây dựng trụ sở Tỉnh Giáo hội tạm hoàn thành, đặt tên là chùa Đạo Nguyên.
Năm 1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Ngài được Viện Hoá Đạo cử làm chánh đại diện tỉnh Quảng Tín cho đến ngày thống nhất đất nước (1975). Trong thời gian này, ngoài việc chăm lo công tác hành chánh của Giáo hội, Ngài còn chú trọng đến việc giảng dạy Kinh Luật Luận cho Tăng Ni trẻ. Ngài đã cùng với Hoà thượng Thích Chơn Ngộ, cố Hoà thượng Thích Từ Ý tổ chức an cư kiết hạ, các lớp học bồi dưỡng Phật Pháp cho Tăng Ni. Ngài tuy trú tại Tam Kỳ nhưng vẫn là giảng viên căn bản của Phật Học Viện tại Đà Nẵng cũng như Trường cơ bản Phật học Quảng Nam - Đà Nẵng về sau.
Năm 1977, tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và Đà Nẵng sát nhập làm một, Chư Tăng Ni 3 tỉnh họp lại thành lập Ban đại diện Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, Ngài giữ chức vụ phó đại diện tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng được tổ chức và Ngài được Đại hội cử làm Phó Thường trực Ban Trị Sự mãi cho đến ngày chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (1996), đồng thời là Uỷ viên Hội Đồng Trị Sự GHPGVN. Sau khi chi tách tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chánh là thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Trung ương Giáo hội đã giao nhiệm vụ cho Ngài làm trưởng ban vận động thành lập Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam. Nhờ nhiệt tâm vì đạo Pháp và đức tính khiêm hạ của mình, Ngài đã tổ chức Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Quảng Nam lần thứ nhất thành tựu tốt đẹp. Tại đại hội lần này, Ngài được bầu làm Trưởng Ban Trị Sự, đồng thời là Trưởng Ban Hướng Dẫn Phật Tử Trung ương GHPGVN. Sau khi thành lập Tỉnh hội, Ngài liền thúc đẩy thành lập Trường cơ bản Phật học Quảng Nam (nay là Cao Trung Phật học Quảng Nam) và tổ chức Đại Giới đàn vào những năm 2000, 2004 để truyền trao giới cho Tăng Ni sinh ngõ hầu giúp họ có cơ hội tiến thủ.
Về phương diện Giới luật, là một Tăng sĩ tinh thông học giới, Ngài luôn lấy Giới làm trọng, với tích cực phát huy vai trò hàng đầu của Giới luật. Vì thế, Ngài thường được các nơi cung thỉnh tham gia công tác truyền giới hoằng luật như: Trong các trú xứ an cư kiết hạ của Chư Tăng địa phương, Ngài thường làm Giáo thọ, làm dẫn thỉnh sư Đại Giới Đàn Vĩnh Gia (Đà Nẵng, 1970), Ban khảo hoạch Đại Giới đàn Thiện Hoà (Sài Gòn, 1980), Giáo thọ A Xà Lê Đại Giới đàn Phước Huệ (Đà Nẵng, 1996), Giáo thọ A Xà Lê Đại Giới Đàn Tịnh Khiết (Huế - 2000), đàn đầu Hoà thượng Đại Giới đàn Minh Giác (Quảng Nam, 2000),Yết Ma A Xà Lê Đại Giới đàn Chánh Nhơn (Bình Định, 2000) và đàn đầu Hoà thượng Đại giới đàn Ân Triêm (Quảng Nam, 2004), Chứng Minh Đại Giới Đàn Trí Thủ (Đà Nẵng, 2008)..
Có thể nói, dù bất cứ lĩnh vực nào, thời kỳ nào Hoà thượng luôn là người hết mình cho công việc. Ngài luôn đặt sự tồn vong của đạo pháp lên hàng đầu, xem Giáo dục Tăng Ni là nền tảng của sự phát triển đạo Pháp, xem Giới luật là giềng mối của sự lớn mạnh Tăng già, Ngài là tấm gương về sự tận tuỵ, khiêm hạ, đạm bạc xứng đáng cho hàng hậu tấn noi theo ./.
ĐỆ TỬ - THÍCH VIEN TANH CẨN BÚT.
Thuở nhở, Ngài được bà nội dẫn đến chùa trong làng lễ Phật tụng kinh vào Rằm, mồng một. Sau đó, với túc duyên nhiều đời nên Ngài gặp Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Hòa từ chùa Trà Can, Tháp Chàm - Phan Rang về tổ chức lễ truyền Tam Quy Ngũ giới tại chùa Tịnh An, Phù Cát, Bình Định. Ngài thọ Tam quy Ngũ giới trong dịp này.
Năm 15 tuổi, cơ duyên thuần tục, lòng cảm mến Phật Pháp dâng cao, Ngài dõng mãnh phát tâm xuất gia và được sự chấp thuận của song thân, năm 1941 Ngài rời gia đình đến đầu sư nơi Hòa thượng Giáo thọ Thích Quảng Đức chùa Tịnh An, mong được suốt đời học tập và hầu hạ để đền đáp công ơn khai thị. Nào ngờ đâu, chỉ mới 5 năm Hòa thượng giáo thọ chích lý Tây quy, cao đăng thượng phẩm. “Sự tử như sự sinh”, Ngài ở lại Tịnh An 4 năm để thù ân báo đáp.
Thời gian thấm thóat trôi qua, lúc này ngài đã 24 tuổi, ngẫm đời vô thường, xót mình giáo pháp chưa thấm, thầy hướng dẫn lại không, do đó Ngài quyết định khăn gói lên đường đến xã An Nhơn, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định cầu thầy làm Hòa thượng hầu được chỉ dạy chỗ đến đi. Được biết, Đại lão Hòa thượng Thượng Giác hạ Tánh, viện chủ tổ đình Hưng Long, trong là một trong những ngọn Hải Đăng của tỉnh thời bấy giờ, Ngài bằng cầu thọ Pháp, xin làm đệ tử và được Đại Lão Hòa thượng Hưng Long đổi pháp danh là Quảng Thành. Sau một năm hầu thầy, học đạo, Ngài được bổn sư cho thọ giới Sadi với pháp hiệu là Thiện Duyên.
Ảnh hưởng phong trào chấn hưng Phật giáo của Thái Hư Đại Sư, lúc này khí thế học Phật bừng dậy từ Bắc chí Nam, các Phật Học Viện mở ra cùng khắp. Năm 1953 Phật Học Đường Nha Trang thành lập, Ngài được Hòa thượng cho vào học tập tại đây. Năm 1956 Phật Học Đường Báo Quốc - Huế chuyển vào Nha Trang và nhập cùng với Phật Học Đường Nha Trang thành Phật Học Viện Trung Phần đặt tại chùa Hải Đức, do cố Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Giám viện và quý Hòa thượng giáo thọ như Thiện Siêu, Huyền Quang, Thiện Minh...chương trình học lúc bấy giờ là chương trình cao đẳng tương đương với chương trình Học Viện Phật giáo Việt Nam bây giờ. Ngài là Tăng sinh khóa này, bạn đồng học của Ngài nay còn lại như Hòa thượng Thích Thiện Bình (Nha Trang), Hòa thượng Thích Đức Chơn, Hòa thượng Thích Thiện Hạnh (Huế),...
Năm 1957, Ngài được bổn sư cho thọ đại giới và ban cho Pháp hiệu là Quán Ngôn. Đại giới đàn này, do Hòa thượng Giám viện tổ chức và Hòa thượng Thích Giác Nhiên (đệ nhị Tăng thống GHPGVNTN) làm Đường đầu Hòa thượng.
Là một trong những Tăng sinh sáng giá của Phật Học Viện Hải Đức, Ngài được Giáo hội Phật giáo Trung Phần bổ nhiệm làm giảng sư trong giảng sư đoàn miền Trung. Trong thời gian này, Ngài đã đi giảng thuyết giáo lý khắp các tỉnh thuộc Trung phần như Nha Trang, Bảo Lộc (Lâm Đồng), Phú Yên, Quảng Ngãi và nhất là Quảng Nam. Tại Quảng Nam, Ngài đã không quản gian lao, vượt thác trèo đèo đến tận các vùng trung du hẻo lánh như Hiệp Đức, Hậu Đức, Trà My, Tiên Phước, Nông Sơn, Quế Sơn, Đại Lộc,...cho đến các vùng đồng bằng ven biển như Tam Hải (Núi Thành), Duy Hải (Duy Xuyên), Bình Minh (Thăng Bình),... trong thời gian hoằng pháp tại Quảng Nam (1958-1969) Ngài thường ở tại các trú xứ Pháp Bảo (Hội An), Hòa An (Tam Kỳ),...
Năm 1962, tỉnh Quảng Nam được chia thành 2 đơn vị là tỉnh Quảng Tín và Quảng Nam. Cuối năm 1962, Giáo hội Phật giáo tỉnh Quảng Tín được thành lập. Hội Đồng Trị Sự Giáo hội Phật giáo Trung phần bổ nhiệm Ngài làm Hội trưởng, trụ sở tạm thời đặt tại Hội quán chùa Hoà An do cố Hoà thượng Thích Từ Ý làm trụ trì.
Năm 1963, pháp nạn bùng nổ, Ngài đã cùng Chư Tăng Ni trong tỉnh chung lưng đấu cật bảo vệ đạo Pháp, đem lại an bình cho Phật giáo địa phương.
Ngày 01/11/1963, chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, Pháp nạn tạm qua, sự sinh hoạt tu học của Tăng Ni trong tỉnh dần dần đi vào ổn định. Xét thấy Giáo hội tỉnh nhà chưa có một cơ sở Tỉnh hội để làm việc, Ngài đã xin mãnh đất tại thôn Mỹ Thạch, xã Kỳ Hương (nay là phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ) để làm trụ sở Tỉnh hội. Ngôi chùa này Tỉnh hội này, do Ngài chủ trì xây dựng khởi công vào ngày 17/11/1963 do Hoà thượng Thích Đôn Hậu chứng minh lễ đặt đá, đến năm 1965 công tác xây dựng trụ sở Tỉnh Giáo hội tạm hoàn thành, đặt tên là chùa Đạo Nguyên.
Năm 1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Ngài được Viện Hoá Đạo cử làm chánh đại diện tỉnh Quảng Tín cho đến ngày thống nhất đất nước (1975). Trong thời gian này, ngoài việc chăm lo công tác hành chánh của Giáo hội, Ngài còn chú trọng đến việc giảng dạy Kinh Luật Luận cho Tăng Ni trẻ. Ngài đã cùng với Hoà thượng Thích Chơn Ngộ, cố Hoà thượng Thích Từ Ý tổ chức an cư kiết hạ, các lớp học bồi dưỡng Phật Pháp cho Tăng Ni. Ngài tuy trú tại Tam Kỳ nhưng vẫn là giảng viên căn bản của Phật Học Viện tại Đà Nẵng cũng như Trường cơ bản Phật học Quảng Nam - Đà Nẵng về sau.
Năm 1977, tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và Đà Nẵng sát nhập làm một, Chư Tăng Ni 3 tỉnh họp lại thành lập Ban đại diện Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, Ngài giữ chức vụ phó đại diện tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng được tổ chức và Ngài được Đại hội cử làm Phó Thường trực Ban Trị Sự mãi cho đến ngày chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (1996), đồng thời là Uỷ viên Hội Đồng Trị Sự GHPGVN. Sau khi chi tách tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chánh là thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Trung ương Giáo hội đã giao nhiệm vụ cho Ngài làm trưởng ban vận động thành lập Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam. Nhờ nhiệt tâm vì đạo Pháp và đức tính khiêm hạ của mình, Ngài đã tổ chức Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Quảng Nam lần thứ nhất thành tựu tốt đẹp. Tại đại hội lần này, Ngài được bầu làm Trưởng Ban Trị Sự, đồng thời là Trưởng Ban Hướng Dẫn Phật Tử Trung ương GHPGVN. Sau khi thành lập Tỉnh hội, Ngài liền thúc đẩy thành lập Trường cơ bản Phật học Quảng Nam (nay là Cao Trung Phật học Quảng Nam) và tổ chức Đại Giới đàn vào những năm 2000, 2004 để truyền trao giới cho Tăng Ni sinh ngõ hầu giúp họ có cơ hội tiến thủ.
Về phương diện Giới luật, là một Tăng sĩ tinh thông học giới, Ngài luôn lấy Giới làm trọng, với tích cực phát huy vai trò hàng đầu của Giới luật. Vì thế, Ngài thường được các nơi cung thỉnh tham gia công tác truyền giới hoằng luật như: Trong các trú xứ an cư kiết hạ của Chư Tăng địa phương, Ngài thường làm Giáo thọ, làm dẫn thỉnh sư Đại Giới Đàn Vĩnh Gia (Đà Nẵng, 1970), Ban khảo hoạch Đại Giới đàn Thiện Hoà (Sài Gòn, 1980), Giáo thọ A Xà Lê Đại Giới đàn Phước Huệ (Đà Nẵng, 1996), Giáo thọ A Xà Lê Đại Giới Đàn Tịnh Khiết (Huế - 2000), đàn đầu Hoà thượng Đại Giới đàn Minh Giác (Quảng Nam, 2000),Yết Ma A Xà Lê Đại Giới đàn Chánh Nhơn (Bình Định, 2000) và đàn đầu Hoà thượng Đại giới đàn Ân Triêm (Quảng Nam, 2004), Chứng Minh Đại Giới Đàn Trí Thủ (Đà Nẵng, 2008)..
Có thể nói, dù bất cứ lĩnh vực nào, thời kỳ nào Hoà thượng luôn là người hết mình cho công việc. Ngài luôn đặt sự tồn vong của đạo pháp lên hàng đầu, xem Giáo dục Tăng Ni là nền tảng của sự phát triển đạo Pháp, xem Giới luật là giềng mối của sự lớn mạnh Tăng già, Ngài là tấm gương về sự tận tuỵ, khiêm hạ, đạm bạc xứng đáng cho hàng hậu tấn noi theo ./.
ĐỆ TỬ - THÍCH VIEN TANH CẨN BÚT.
Friday, February 4, 2011
Hanh phuc giua cai chet
Cái chết không phải mất mát lớn trong cuộc đời. Mất mát lớn nhất là cái chết của những mối quan hệ bên cạnh chúng ta trong khi chúng ta hiện đang sống.
Nhân mùa Phật Đản, Phật lịch 2551 của Đại thừa Phật giáo, cũng như lễ Tam hợp của Đức Thế Tôn theo Nam truyền Phật giáo (Đản sanh, Thành đạo và Niết bàn), viết theo Anh ngữ: (Commemoration of 2551th Aniversary of Mahaparinirvana of Lord Buddha). Người viết đi giã ngoại, tham quan thánh địa Chamba(campa) tỉnh Punjab, ban Himachal Pradesh, Ấn Độ, tình cờ gặp tờ báo Himachal Pradesh toàn chữ Hindi, ra ngày 25 tháng 5 năm 2007, là thứ tiếng Ấn Độ, nhưng có một câu duy nhất viết bằng Anh ngữ, đăng trên trang đầu tờ báo:
“Death is not the greatest loss in life. The greatest loss is the death of relationships inside us while we are live”.
Nay mùa An cư của chư Tăng, chúng tôi xin gởi đến quí vị Phật tử ý nghĩa câu viết này, người viết lấy tiêu đề “Hạnh phúc giữa cái chết”.
Thưa, câu trên tạm dịch: Cái chết không phải mất mát lớn trong cuộc đời. Mất mát lớn nhất là cái chết của những mối quan hệ bên cạnh chúng ta trong khi chúng ta hiện đang sống.
Xin giải thích thêm:
Chết là gì? Thông thường theo người đời, chết là sự trút hơi thở của một con người để về cảnh giới khác. Nhưng theo Phật giáo, chết là diễn biến tương tục từng sát na không lúc nào ngừng, như chúng ta đang sống, sự tuần hoàn của tế bào máu thay đổi, sanh diệt liên tục. Theo câu trên, chết có ý nghĩa là chúng ta đang sống mất hết mọi quan hệ bên cạnh cuộc sống chung quanh chúng ta thì cũng coi như đã chết. Chết có nhiều tên gọi, đối với bậc trưởng lão Phật giáo gọi là xả báo an tường thâu thần Thị tịch, Viên tịch.Vua chúa gọi là băng hà, đối với người thường gọi là qua đời. quá vãng, vãng sanh…, còn đối với chiến sĩ chết gọi là Tử trận. Người chết nước gọi là Trầm nịch….
Hạnh phúc là như thế nào? Một quyển sách của Ngài LatLaiLatMa người Tây Tạng, lấy tựa đề “Sống hạnh phúc, chết bình an”. Nghĩa là chúng ta sống có tu tập, làm cho thân tâm chúng ta an lạc, gia đình bình an và xã hội an hòa thì chúng ta đã chuẩn bị cái chết trong tương lai không có điều gì sợ hãi và khiếp đảm cả. Có một Phật tử hỏi Thiền sư: “Con quá đau khổ trong cuộc đời vì gặp mọi hoàn cảnh không thể sống nổi. Thưa Thiền sư! Làm thế nào để con có được hạnh phúc?” Thiền sư trả lời: “Ông Tổ chết, Ông nội chết, cha chết, con chết… như vậy là hạnh phúc”. Người Phật tử rất hoảng sợ. Mình đã mang nghiệp duyên gi đây lại chịu nhiều nỗi đau khổ thế, đến vị Thiền sư cho một câu có nhiều chữ “Chết”, khiến con người mình càng thống khổ thêm. Nhưng về sau, Phật tử đó lại “Giác Ngộ” được câu nói của vị Thiền sư, nghĩ ra rằng vị Thiền sư nói đúng. Sống theo thứ lớp, chết cũng theo thứ tự, không bị chết một cách oan ức, oan uổng cuộc đời thì đó là hạnh phúc.
Trong cuộc sống, niềm vui, hạnh phúc cho những ai may mắn đi trọn đường đời, khi xả báo thân an vui tự tại, an lạc trước sự ra đi của người thân, từ giả cuộc đời, về cõi vĩnh hằng để tìm cuộc sống mới. Chúng ta làm thế nào để người thân hiểu được nỗi mất mát lớn trong gia đình khi có người đang mất?. Thật bất hạnh thay! Cho những ai nghiệp cảm chồng chất nhiều đời, tham ái chấp thủ, nhân duyên ràng buộc, khi họ đang sống mang nhiều tật nguyền, bệnh tật khó điều trị, sự sống đè nặng lên trên cái chết (sống cũng như chết). Thế mà họ vẫn yêu cuộc sống của họ và chấp nhận cay đắng cho kiếp người. Hay bất chợt vì thời tiết trái gió trở trời lại bị bệnh trúng phong, trúng độc, thổ tả…qua đời. Có người vì tình duyên trắc trở, gia đình không hạnh phúc, có lúc quyên sinh, trầm mình dưới dòng nước lạnh… để lại mất mát lớn và nỗi oan nghiệt cho người thân, hoặc tai nạn, chiến tranh… bỏ thân ra đi từ giã cuộc đời mình đang sống. Như trong kinh Dược Sư diễn tả 9 cái chết không cứu được là vậy.
Những mất mát trên, chưa gọi là mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự ra đi không tìm lại được, cái lớn nhất trong cuộc đời con người là sự hủy diệt của thân và tâm, thay đổi trong từng sát na, biến đổi từng dây từng phút. Và lớn hơn nữa, trong môi trường sống, mối quan hệ cá nhân, gia đình và xã hội là sự gắn bó thân thiết, tạo niềm tin thiết thực trong cuộc sống. Nếu chúng ta không hiểu được ý nghĩa lời nói trên lại là nỗi khó khăn trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta bị màn Vô minh của Tam độc: tham, sân, si chấp thủ, luôn trói chặt mọi hoàn cảnh sống của chúng ta, khiến không đón nhận tình thương yêu của tâm Từ, tâm Bi, tâm Hỉ và tâm Xả của Phật giáo. Chúng ta cũng hiểu rằng: loài thú cũng biết bảo vệ đồng bọn, lại chống cự với kẻ thù tấn công, hay có những con vật kêu rên xiết, treo mình theo bạn bè đã chết.
Như thế, chúng ta không hiểu hạnh phúc giữa cái chết, phải chăng chúng ta đánh mất hết những mối quan hệ giữa người thân gia đình, tập thể và mọi hoàn cảnh xã hội trong mội trường sống của chúng ta hiện đang sống thì chúng ta sống cũng xem như đã chết.
Mùa An cư kiết hạ của chư Tăng, cũng như mùa Báo Hiếu sắp trở về, người viết gởi đến quí vị Phật tử giá trị của câu nói trên để chúng ta nhận chân được mọi hoàn cảnh sống tác động vào bản thân, gia đình và xã hội làm cho tâm chúng ta thêm vững mạnh, trí tuệ khai mở đón nhận vòng tay yêu thương rộng mở của tình yêu thương cuộc đời trong mọi hoàn cảnh sống chúng ta. Cầu nguyện Tam Bảo gia hộ khắp pháp giới chúng sanh thân tâm thường lạc, hưởng một mùa Vu Lan tràn đầy niềm HIẾU HẠNH.
Mùa An cư kiết Hạ, Phật lich: 2551, dương lịch 2007. Viết tại Đạo tràng An cư kiết Hạ của chư Tăng sinh viên Việt Nam, Chùa Đài Loan, Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ.
Kính bút
TK Thích Viên Tánh
Nhân mùa Phật Đản, Phật lịch 2551 của Đại thừa Phật giáo, cũng như lễ Tam hợp của Đức Thế Tôn theo Nam truyền Phật giáo (Đản sanh, Thành đạo và Niết bàn), viết theo Anh ngữ: (Commemoration of 2551th Aniversary of Mahaparinirvana of Lord Buddha). Người viết đi giã ngoại, tham quan thánh địa Chamba(campa) tỉnh Punjab, ban Himachal Pradesh, Ấn Độ, tình cờ gặp tờ báo Himachal Pradesh toàn chữ Hindi, ra ngày 25 tháng 5 năm 2007, là thứ tiếng Ấn Độ, nhưng có một câu duy nhất viết bằng Anh ngữ, đăng trên trang đầu tờ báo:
“Death is not the greatest loss in life. The greatest loss is the death of relationships inside us while we are live”.
Nay mùa An cư của chư Tăng, chúng tôi xin gởi đến quí vị Phật tử ý nghĩa câu viết này, người viết lấy tiêu đề “Hạnh phúc giữa cái chết”.
Thưa, câu trên tạm dịch: Cái chết không phải mất mát lớn trong cuộc đời. Mất mát lớn nhất là cái chết của những mối quan hệ bên cạnh chúng ta trong khi chúng ta hiện đang sống.
Xin giải thích thêm:
Chết là gì? Thông thường theo người đời, chết là sự trút hơi thở của một con người để về cảnh giới khác. Nhưng theo Phật giáo, chết là diễn biến tương tục từng sát na không lúc nào ngừng, như chúng ta đang sống, sự tuần hoàn của tế bào máu thay đổi, sanh diệt liên tục. Theo câu trên, chết có ý nghĩa là chúng ta đang sống mất hết mọi quan hệ bên cạnh cuộc sống chung quanh chúng ta thì cũng coi như đã chết. Chết có nhiều tên gọi, đối với bậc trưởng lão Phật giáo gọi là xả báo an tường thâu thần Thị tịch, Viên tịch.Vua chúa gọi là băng hà, đối với người thường gọi là qua đời. quá vãng, vãng sanh…, còn đối với chiến sĩ chết gọi là Tử trận. Người chết nước gọi là Trầm nịch….
Hạnh phúc là như thế nào? Một quyển sách của Ngài LatLaiLatMa người Tây Tạng, lấy tựa đề “Sống hạnh phúc, chết bình an”. Nghĩa là chúng ta sống có tu tập, làm cho thân tâm chúng ta an lạc, gia đình bình an và xã hội an hòa thì chúng ta đã chuẩn bị cái chết trong tương lai không có điều gì sợ hãi và khiếp đảm cả. Có một Phật tử hỏi Thiền sư: “Con quá đau khổ trong cuộc đời vì gặp mọi hoàn cảnh không thể sống nổi. Thưa Thiền sư! Làm thế nào để con có được hạnh phúc?” Thiền sư trả lời: “Ông Tổ chết, Ông nội chết, cha chết, con chết… như vậy là hạnh phúc”. Người Phật tử rất hoảng sợ. Mình đã mang nghiệp duyên gi đây lại chịu nhiều nỗi đau khổ thế, đến vị Thiền sư cho một câu có nhiều chữ “Chết”, khiến con người mình càng thống khổ thêm. Nhưng về sau, Phật tử đó lại “Giác Ngộ” được câu nói của vị Thiền sư, nghĩ ra rằng vị Thiền sư nói đúng. Sống theo thứ lớp, chết cũng theo thứ tự, không bị chết một cách oan ức, oan uổng cuộc đời thì đó là hạnh phúc.
Trong cuộc sống, niềm vui, hạnh phúc cho những ai may mắn đi trọn đường đời, khi xả báo thân an vui tự tại, an lạc trước sự ra đi của người thân, từ giả cuộc đời, về cõi vĩnh hằng để tìm cuộc sống mới. Chúng ta làm thế nào để người thân hiểu được nỗi mất mát lớn trong gia đình khi có người đang mất?. Thật bất hạnh thay! Cho những ai nghiệp cảm chồng chất nhiều đời, tham ái chấp thủ, nhân duyên ràng buộc, khi họ đang sống mang nhiều tật nguyền, bệnh tật khó điều trị, sự sống đè nặng lên trên cái chết (sống cũng như chết). Thế mà họ vẫn yêu cuộc sống của họ và chấp nhận cay đắng cho kiếp người. Hay bất chợt vì thời tiết trái gió trở trời lại bị bệnh trúng phong, trúng độc, thổ tả…qua đời. Có người vì tình duyên trắc trở, gia đình không hạnh phúc, có lúc quyên sinh, trầm mình dưới dòng nước lạnh… để lại mất mát lớn và nỗi oan nghiệt cho người thân, hoặc tai nạn, chiến tranh… bỏ thân ra đi từ giã cuộc đời mình đang sống. Như trong kinh Dược Sư diễn tả 9 cái chết không cứu được là vậy.
Những mất mát trên, chưa gọi là mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự ra đi không tìm lại được, cái lớn nhất trong cuộc đời con người là sự hủy diệt của thân và tâm, thay đổi trong từng sát na, biến đổi từng dây từng phút. Và lớn hơn nữa, trong môi trường sống, mối quan hệ cá nhân, gia đình và xã hội là sự gắn bó thân thiết, tạo niềm tin thiết thực trong cuộc sống. Nếu chúng ta không hiểu được ý nghĩa lời nói trên lại là nỗi khó khăn trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta bị màn Vô minh của Tam độc: tham, sân, si chấp thủ, luôn trói chặt mọi hoàn cảnh sống của chúng ta, khiến không đón nhận tình thương yêu của tâm Từ, tâm Bi, tâm Hỉ và tâm Xả của Phật giáo. Chúng ta cũng hiểu rằng: loài thú cũng biết bảo vệ đồng bọn, lại chống cự với kẻ thù tấn công, hay có những con vật kêu rên xiết, treo mình theo bạn bè đã chết.
Như thế, chúng ta không hiểu hạnh phúc giữa cái chết, phải chăng chúng ta đánh mất hết những mối quan hệ giữa người thân gia đình, tập thể và mọi hoàn cảnh xã hội trong mội trường sống của chúng ta hiện đang sống thì chúng ta sống cũng xem như đã chết.
Mùa An cư kiết hạ của chư Tăng, cũng như mùa Báo Hiếu sắp trở về, người viết gởi đến quí vị Phật tử giá trị của câu nói trên để chúng ta nhận chân được mọi hoàn cảnh sống tác động vào bản thân, gia đình và xã hội làm cho tâm chúng ta thêm vững mạnh, trí tuệ khai mở đón nhận vòng tay yêu thương rộng mở của tình yêu thương cuộc đời trong mọi hoàn cảnh sống chúng ta. Cầu nguyện Tam Bảo gia hộ khắp pháp giới chúng sanh thân tâm thường lạc, hưởng một mùa Vu Lan tràn đầy niềm HIẾU HẠNH.
Mùa An cư kiết Hạ, Phật lich: 2551, dương lịch 2007. Viết tại Đạo tràng An cư kiết Hạ của chư Tăng sinh viên Việt Nam, Chùa Đài Loan, Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ.
Kính bút
TK Thích Viên Tánh
Tuesday, December 7, 2010
Nguyen Hanh

NGUYỆN
Người tu học đã có sức mạnh của lòng tin như thế rồi, thì hiểu rằng : Cõi Ta Bà ô uế này là do tâm tính mình ô uế tạo ra. Lý ưng mình phải chán bỏ nó. Cõi Cực Lạc trong sạch kia là do tâm tính mình trong sạch tạo ra nó. Lý ưng mình phải mong cầu lấy nó.
Mình đã chán ô uế thì nên bỏ, mà đã bỏ thì phải bỏ cho thật rốt ráo, không còn phải bỏ đi bỏ lại nữa. Mình đã thích trong sạch thì nên lấy, mà đã lấy cũng nên lấy cho thật rốt ráo, không còn phải lấy đi lấy lại nữa. Sách Diệu Tông nói : Người nào đã bỏ hết rồi, đã lấy hết rồi, tức là người không còn phải bỏ, phải lấy gì nữa. Nếu ai chẳng làm trọn hết cái việc lấy , bỏ, mà đã vội nói rằng tôi chẳng lấy, chẳng bỏ gì cả. Thế là người chỉ nói lý suông mà chẳng chịu làm cho xong phận sự. Phần Sự đã chẳng chịu làm cho xong thì phần Lý cũng chẳng được trọn vẹn.
Nếu mình đã hiểu thấu được hoàn toàn Sự ấy tức là Lý ấy , thời mình chỉ nguyện lấy sự này, tức là đúng lý mà lấy, và mình chỉ nguyện bỏ sự kia, cũng là đúng lý mà bỏ. Một khi bỏ, một khi lấy, chỉ là bỏ pháp giới này, lấy pháp giới kia mà thôi. Và đều đúng lý cả.
Cho nên sau khi có tâm tín rồi, thì phải phát nguyện cho rõ ràng. (nguyện bỏ cõi Ta Bà, nguyện lấy nước Cực Lạc).
HÀNH
Bây giờ nói đến hành. Là người chấp trì danh hiệu nhất tâm bất loạn, tức là người niệm danh hiệu Phật để cho Tâm mình đậu vào một chỗ, chẳng bị rối loạn.
Niệm danh hiệu Phật tức là niệm công đức Phật. Công đức của Phật chẳng khá nghĩ bàn (vì trí tuệ mình thấp kém quá, nghĩ bàn sao được)
Danh hiệu của Phật và công đức của Phật đều chẳng thể nghĩ bàn, cho nên người niệm danh hiệu Phật mà tâm tán loạn cũng đã tạo được hột giống thành Phật mai sau. Còn người niệm Phật nhất tâm bất loạn thì sẽ được lên ngay ngôi Bồ Tát bất thối.
Các kinh nói về phép tu Tịnh Độ rất nhiều, có nghìn vạn phép khác nhau, như là những phép ngồi quán tưởng Phật, và các phép lễ bái, cúng dường, ngũ hối, lục niệm v.v…Trong các phép ấy, tu được phép nào cũng được sinh về Tịnh Độ.
Duy chỉ có một phép “Trì danh” là phép niệm Phật thu được hết mọi hạng người, ai tu cũng được và ai bắt tay vào tu cũng thấy rất dễ. Cho nên không ai hỏi mà Đức Thích Ca tự nói ra kinh này. Ngài đặc biệt hướng vào ông Xá Lợi Phất là người đại trí tuệ mà nói cho nghe. Đủ biết phép này là một phép liễu nghĩa vô thượng, rút ra ở trong các phép liễu nghĩa đệ nhất, và là một phép tối cực viên đốn, rút ra trong các phép viên đốn. Cho nên nói rằng “Ngọc minh châu bỏ vào nước đục, nước đục tất phải trong” . Danh hiệu Phật gieo vào cái tâm rối loạn , tâm rối loạn tất phải định, phải thành Phật.
Cái tâm tín và nguyện với cái việc trì danh ở kinh này là cái mầm nhân chân thực của Đạo Nhất Thừa , nó sẽ tạo ra cái quả màu nhiệm của Đạo Nhất Thừa, tức là bốn cõi Tịnh Độ. Gây được nhân , thời quả tất phải theo nhân mà mọc ra. Cho nên dùng cái tâm tín và nguyện với việc trì danh làm tôn chỉ chính đáng của bộ kinh này.
Còn tướng trạng của bốn cõi Tịnh Độ, ở bộ Diệu Tôn Sao và kinh Phạm Võng Huyền Nghĩa đã nói rất tường tận.
Subscribe to:
Posts (Atom)